Đăng ký nhận tin
Chủ Nhật, ngày 05/4/2026

Tài liệu giới thiệu nội dung cơ bản của luật hóa chất năm 2025

TÀI LIỆU GIỚI THIỆU NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT HÓA CHẤT NĂM 2025

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH

1.1. Cơ sở pháp lý

Sau khi Luật Hóa chất có hiệu lực, nhiều chủ trương, chính sách mới của Đảng và nhà nước liên quan đến phát triển công nghiệp, quản lý hóa chất, an toàn hóa chất, cụ thể:

- Tại Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tiếp tục xác định: “Ưu tiên nguồn lực và có cơ chế, chính sách khuyến khích đủ mạnh để phát triển những lĩnh vực ưu tiên của các ngành công nghiệp nền tảng: hóa chất (ưu tiên phát triển các loại hóa chất cơ bản, hóa dầu, hóa dược, phân bón)”; “Khuyến khích phát triển công nghiệp cơ khí, hóa chất và công nghệ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp và chế biến nông, lâm, thủy sản”.

- Nhiều quy định pháp luật mới như Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Luật Phòng chống ma túy, Luật Quản lý, sử dụng Vũ khí, Vật liệu nổ và Công cụ hỗ trợ, Luật Bảo vệ môi trường được ban hành sau này với nhiều điểm đổi mới so với thời điểm ban hành Luật Hóa chất. Những thay đổi này cùng với xu hướng chuyển hệ thống quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cải cách, hiện đại hóa hành chính dẫn tới việc các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hóa chất phải thay đổi theo, dần làm giảm tính hài hòa, thống nhất trong toàn bộ hệ thống quy định về quản lý hóa chất.

- Một số công ước quốc tế về hóa chất được ký kết và gia nhập sau khi Luật Hóa chất có hiệu lực (các công ước Basel, Stockholm, Rotterdam, Minamata và SAICM…) do đó, cần sửa đổi, bổ sung quy định để nội luật hóa các công ước này, đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ thành viên công ước và các cam kết quốc tế của Việt Nam. Tại Nghị quyết về Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 6 năm 2023 của Chính phủ (số 95/NQ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2023), Chính phủ đã thống nhất về sự cần thiết, quan điểm, mục tiêu sửa đổi Luật Hóa chất năm 2007 cũng như các nội dung cơ bản của dự án Luật Hóa chất (sửa đổi); đồng thời Chính phủ cũng đã giao Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà chỉ đạo việc hoàn thiện dự án Luật này, để trình Quốc hội khóa XV cho ý kiến lần đầu về dự án Luật Hóa chất (sửa đổi) tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5 năm 2024). Sau khi xem xét đề nghị của Chính phủ và chương trình công tác Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã có Nghị quyết số 41/2023/UBTVQH15 bổ sung dự án Luật Hóa chất (sửa đổi) và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8 (tháng 10 năm 2024).

1.2. Cơ sở thực tiễn

Luật Hóa chất số 06/2007/QH12 được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2008; đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 28/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật có liên quan đến quy hoạch, theo đó việc sửa đổi này chỉ bao gồm bãi bỏ các nội dung liên quan đến quy hoạch ngành hóa chất để phù hợp với Luật Quy hoạch.  Luật Hóa chất tương đối toàn diện và tiến bộ, với các chế định được thiết kế phù hợp với hoàn cảnh và các điều kiện kinh tế cụ thể của ngành hóa chất Việt Nam, đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển chung của quản lý hóa chất trên thế giới.  Sau 15 năm thi hành, việc thực thi Luật Hóa chất đã mang lại những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, sau hơn 15 năm thi hành Luật Hóa chất năm 2007 đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế sau đây:

 Thứ nhất, Luật Hóa chất hiện nay chưa quy định rõ ràng và chính xác phạm vi và đối tượng áp dụng các hoạt động quản lý, cụ thể như: chưa phân định được hóa chất và các sản phẩm hàng hóa chứa hóa chất; chưa phân định cụ thể hoạt động sản xuất hóa chất và các hoạt động phối trộn, pha loãng hóa chất; khái niệm về hóa chất độc chưa phù hợp thực tế... Hóa chất tồn tại dưới nhiều trạng thái khác nhau và sử dụng trong nhiều lĩnh vực, do vậy các khái niệm chưa phân định rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến xác định đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật, phân công trách nhiệm và phối hợp trong quản lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước.

Thứ hai, Luật Hóa chất chỉ điều chỉnh với các hóa chất (bao gồm chất, hợp chất, hỗn hợp chất), tạm hiểu là các hóa chất cơ bản. Do đó, các quy định đối với dự án hóa chất trong Luật chỉ áp dụng với dự án hóa chất cơ bản. Tuy nhiên, theo phân ngành công nghiệp, công nghiệp hóa chất gồm 10 lĩnh vực: phân bón, hóa chất cơ bản, hóa dược, hóa dầu, các sản phẩm cao su, sơn - mực in, khí công nghiệp, nguồn điện hóa học (pin, ắc quy), hóa chất bảo vệ thực vật, sản phẩm chất tẩy rửa, hoá chất tiêu dùng. Do đó, “dự án hóa chất” trong công tác phát triển công nghiệp hóa chất cần được quy định cụ thể hơn.

Thứ ba, theo quy định của Luật Quy hoạch năm 2017, các quy hoạch ngành hóa chất, quy hoạch các sản phẩm hóa chất đã hết hiệu lực thi hành. Điều 8, Điều 9 của Luật Hóa chất đã được bãi bỏ theo quy định của Luật số 28/2018/QH14 ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch. Hoạt động đầu tư, phát triển ngành công nghiệp hóa chất được thực hiện theo các chiến lược phát triển, do đó cần bổ sung các quy định về trách nhiệm xây dựng và thực hiện chiến lược.

Thứ tư, chưa có quy định đối với tổ chức, cá nhân tư vấn xây dựng dự án hóa chất. Hiện nay, Bộ Xây dựng chỉ cấp chứng chỉ xây dựng cho tổ chức, cá nhân hoạt động đối với công trình công nghiệp, công nghiệp nhẹ, và công nghiệp nặng, không cấp riêng cho lĩnh vực hóa chất. Trong khi đó, các dự án hóa chất mang tính đặc thù, chuyên môn sâu, do vậy cần có các quy định riêng đối với hoạt động tư vấn xây dựng dự án hóa chất.

Thứ năm, về quy định quản lý hóa chất: Các quy định đối với hoạt động sử dụng hóa chất chưa đảm bảo được hiệu lực quản lý, các quy định về vận chuyển, thải bỏ hóa chất còn chung chung và chưa được quan tâm, dẫn đến những lỗ hổng quản lý trong chu trình vòng đời của hóa chất; nhiều hóa chất nguy hiểm bị sử dụng sai mục đích (hóa chất công nghiệp nhưng sử dụng trong chế biến thực phẩm; tiền chất công nghiệp có nguy cơ sử dụng trong pha chế chất ma túy trái quy định, hóa chất trong lĩnh vực công nghiệp và thực phẩm bị lạm dụng trong vui chơi giải trí…) gây ra nhiều khó khăn cho cơ quan quản lý và doanh nghiệp.

Thứ sáu, về phân công và thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về hóa chất: Nhiều trường hợp doanh nghiệp khai báo mục đích sử dụng trong các lĩnh vực có quy định quản lý “cởi mở” hơn nhưng sau đó lại sử dụng vào các mục đích bị cấm, hạn chế hoặc có kiểm soát đặc biệt. Do đó, cần thiết phải có quy định chung, tổng thể đối với tất cả các loại hóa chất, từ đó phân công phù hợp giữa các ngành, lĩnh vực để thống nhất, phối hợp quản lý, đảm bảo không chồng chéo nhưng cũng không để khoảng trống nhằm giảm thiểu nguy cơ hóa chất bị sử dụng sai mục đích.

Thứ bảy, về thông tin hóa chất: Hệ thống tiêu chuẩn an toàn đối với trang thiết bị trong hoạt động hóa chất còn hạn chế, chưa điều chỉnh hết các hoạt động liên quan các loại hóa chất nguy hiểm; quy định về điều kiện an toàn trong hoạt động hóa chất còn thiếu cụ thể dẫn đến khó thực thi; các quy định về bảo mật thông tin còn chung chung, chưa cụ thể nên khó khăn trong việc xây dựng quy trình hướng dẫn thực hiện các thủ tục hành chính hoặc báo cáo định kỳ hàng năm.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO

Một là, kế thừa và phát triển các quy định của Luật Hóa chất năm 2007, tránh gây khó khăn trong quá trình thực thi cho các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp, đồng thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong hoạt động hóa chất.

Hai làm, tiếp cận với xu thế và hài hòa với hệ thống quản lý hóa chất của các nước trên thế giới nhưng phải đảm bảo tính khả thi trong điều kiện về trình độ phát triển, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực của Việt Nam.

Ba là, đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt giảm và đơn giản hoá điều kiện đầu tư kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, tăng năng lực cạnh tranh quốc gia; thực hiện Chính phủ điện tử, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hóa chất.

Bốn là,  áp dụng tối đa công nghệ thông tin, bắt kịp xu hướng chuyển đổi số, ứng dụng tối đa khoa học công nghệ, lợi thế của môi trường mạng trong hoạt động quản lý để tránh phát sinh khối lượng công việc quá lớn cho cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trong điều kiện nguồn nhân lực hạn chế, từ đó tập trung nâng cao chất lượng quản lý.

Năm là, định hướng quản lý hóa chất dựa trên đánh giá rủi ro để lựa chọn hóa chất cần quản lý chặt chẽ nhằm tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực của cơ quan quản lý nhà nước, của xã hội trong giảm thiểu rủi ro, nguy hiểm của hóa chất. Áp dụng các quy định quản lý có mức độ chặt chẽ phù hợp với các loại hóa chất có mức độ rủi ro khác nhau một cách đồng bộ trong toàn bộ vòng đời từ khâu xuất, nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, sử dụng và thải bỏ.

III. BỐ CỤC CỦA LUẬT

Luật Hóa chất số 69/2025/QH15 có bố cục gồm 7 Chương, 48 Điều:

- Chương I: Quy định chung, gồm 03 điều: từ Điều 1 đến Điều 3.

- Chương II: Phát triển ngành công nghiệp hóa chất, gồm 5 điều: từ Điều 4 đến Điều 8.

- Chương III: Quản lý hoạt động hóa chất, gồm 11 điều, từ Điều 9 đến Điều 19.

- Chương IV: Thông tin hóa chất, gồm 11 điều, từ Điều 20 đến Điều 30.

- Chương V: Hóa chất nguy hiểm trong sản phẩm, hàng hóa, gồm 2 Điều, từ Điều 31 đến Điều 32. 

- Chương VI: An toàn, an ninh hóa chất, gồm 44 điều, từ Điều 33 đến Điều 46.

- Chương VII: Điều khoản thi hành, gồm 02 điều, từ Điều 47 đến Điều 48.

IV. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN

1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về hóa chất, quản lý hoạt động hóa chất; phát triển ngành công nghiệp hóa chất; thông tin hóa chất; hóa chất nguy hiểm trong sản phẩm, hàng hóa; an toàn, an ninh trong hoạt động hóa chất.

2. Những điểm mới của Luật

2.1. Bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm

Điều 3 Luật Hóa chất 2025 bổ sung nhiều hành vi bị nghiêm cấm như:

- Chiếm đoạt hóa chất; mua, bán, trao đổi, gửi, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố hóa chất trái pháp luật.

- Chiếm đoạt, mua, bán, trao đổi, tặng cho, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, làm giả, sửa chữa, tẩy xóa giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ về hóa chất.

- Cố ý cung cấp không đầy đủ, không kịp thời, sai lệch thông tin về đặc tính nguy hiểm của hóa chất; sản phẩm, hàng hóa chứa hóa chất nguy hiểm; việc mất, thất thoát hóa chất nguy hiểm; sự cố hóa chất.

- Sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa có hàm lượng hóa chất nguy hiểm không tuân thủ quy định của Luật này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến con người, cơ sở vật chất, tài sản, môi trường.

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về quản lý hóa chất.

- Sản xuất, kinh doanh, sử dụng hóa chất làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến con người, cơ sở vật chất, tài sản, môi trường; xâm phạm an ninh quốc gia, an ninh hóa chất, trật tự, an toàn xã hội; quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2.2. Bổ sung yêu cầu đối với dự án hóa chất

Theo Điều 5 Luật Hóa chất 2025, dự án hóa chất phải đáp ứng một số yêu cầu mới như:

- Chủ đầu tư dự án hóa chất có các nghĩa vụ áp dụng bộ nguyên tắc trong thiết kế, lựa chọn công nghệ, thiết bị, quy trình sản xuất, sử dụng và thải bỏ hóa chất nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ việc sử dụng và tạo ra hóa chất nguy hiểm (sau đây gọi là nguyên tắc hóa học xanh).

- Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng của dự án hóa chất được thực hiện theo quy định của Luật Xây dựng và phải gồm các nội dung sau đây:

+ Việc tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật và quy định về an toàn hóa chất;

+ Nguyên tắc hóa học xanh đã được áp dụng trong thiết kế và lựa chọn công nghệ, thiết bị.

2.3. Bổ sung quy định về lĩnh vực công nghiệp hóa chất trọng điểm

Luật Hóa chất 2025 có quy định mới về lĩnh vực công nghiệp hóa chất trọng điểm như sau:

- Lĩnh vực công nghiệp hóa chất trọng điểm bao gồm:

- Sản xuất sản phẩm công nghiệp hóa chất trọng điểm gồm: sản phẩm hóa chất cơ bản; sản phẩm hóa dầu; sản phẩm hóa dược; sản phẩm cao su, trừ sản phẩm săm, lốp; phân bón hàm lượng cao; hydro, amoniac được sản xuất bằng nguồn năng lượng tái tạo;

- Đầu tư khu công nghiệp chuyên ngành hóa chất;

- Đầu tư tổ hợp công trình hóa chất với mục tiêu chính là sản xuất hóa chất và sản phẩm của ngành công nghiệp hóa chất;

- Đầu tư dự án hóa chất thuộc đối tượng áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo quy định của Luật Đầu tư.

Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghiệp hóa chất trọng điểm có quy mô vốn đầu tư, tiến độ giải ngân theo quy định của Chính phủ được hưởng các hình thức ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo quy định tại Luật Đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2.4. Thay thế "hóa chất chất hạn chế sản xuất, kinh doanh" bằng "hóa chất cần kiểm soát đặc biệt"

Trước đây, khoản 1 Điều 15 Luật Hóa chất 2007 quy định:

Hóa chất thuộc Danh mục hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh là hóa chất nguy hiểm được kiểm soát đặc biệt về kỹ thuật an toàn, phạm vi, loại hình, quy mô, thời hạn sản xuất, kinh doanh để bảo đảm không gây phương hại đến quốc phòng, an ninh, sức khỏe con người, tài sản, môi trường.

Tại Luật Hóa chất 2025, hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh được thay thế bằng hóa chất được kiểm soát đặc biệt. Cụ thể, theo điểm a khoản 2 Điều 9 Luật Hóa chất 2025:

Hóa chất cần kiểm soát đặc biệt gồm chất và hỗn hợp chất nguy hiểm thuộc Danh mục hóa chất cần kiểm soát đặc biệt do Chính phủ ban hành, gồm: hóa chất thuộc đổi tượng kiểm soát để thực thi điều ước quốc tế về hóa chất mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; hóa chất có khả năng gây hại đến quốc phòng, an ninh, an toàn xã hội, con người, cơ sở vật chất, tài sản, môi trường;

2.5. Danh mục hóa chất cấm áp dụng thống nhất theo Luật Đầu tư

Trước đây, Luật Hóa chất 2007 quy định danh mục hóa chất cấm do Chính phủ quy định.

Theo khoản 3 Điều 9 Luật Hóa chất 2025, danh mục hóa chất, khoáng vật cấm ban hành theo quy định của Luật Đầu tư.

2.6. Sửa đổi, bổ sung yêu cầu đối với hóa chất cấm

Phạm vi, yêu cầu đối với hóa chất cấm được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 9 Luật Hóa chất 2025 như sau:

- Tổ chức, cá nhân không được thực hiện hoạt động hóa chất đối với hóa chất cấm, trừ trường hợp được phép sản xuất, nhập khẩu, sử dụng, vận chuyển, tồn trữ hóa chất cấm theo mục đích quy định tại Luật Đầu tư, Luật Quản lý ngoại thương và luật khác có liên quan; được phép xuất khẩu hóa chất cấm.

- Bổ sung: Tổ chức sản xuất, nhập khẩu, sử dụng, tồn trữ hóa chất cấm phải lập sổ theo dõi theo quy định của Bộ, cơ quan ngang Bộ; quản lý nghiêm ngặt số lượng, bảo đảm không để xảy ra thất thoát, sự cố hóa chất;

- Bổ sung: Tổ chức, cá nhân không được tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh hóa chất cấm.

2.7. Tách riêng giấy phép cho hoạt động sản xuất và hoạt động kinh doanh hóa chất có điều kiện

Theo Điều 10 Luật Hóa chất 2025:

- Tổ chức sản xuất hóa chất có điều kiện, hóa chất cần kiểm soát đặc biệt phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất hóa chất có điều kiện, Giấy phép sản xuất hóa chất cần kiểm soát đặc biệt.

- Tổ chức kinh doanh hóa chất có điều kiện, hóa chất cần kiểm soát đặc biệt phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hóa chất có điều kiện, Giấy phép kinh doanh hóa chất cần kiểm soát đặc biệt.\

Theo Luật Hóa chất 2007:

- Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh hóa chất thuộc Danh mục hóa chất sản xuất, kinh doanh có điều kiện áp dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất có điều kiện.

- Giấy phép sản xuất, kinh doanh hóa chất thuộc Danh mục hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh áp dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh.

2.8. Quy định về giấy phép sản xuất hóa chất cấm

Theo Điều 10 Luật Hóa chất 2025, Giấy phép sản xuất hóa chất cấm có thời hạn 12 tháng kể từ ngày cấp.

Trước đây chưa có quy định này.

2.9. Chỉ yêu cầu lập Phiếu kiểm soát mua, bán đối với hóa chất cần kiểm soát đặc biệt

Theo Điều 17 Luật Hóa chất 2025:

- Tổ chức kinh doanh hóa chất thuộc Danh mục hóa chất cần kiểm soát đặc biệt phải lập phiếu kiểm soát mua, bán hóa chất cần kiểm soát đặc biệt cho từng lần giao hàng.

- Tổ chức kinh doanh hóa chất thuộc Danh mục hóa chất cần kiểm soát đặc biệt chỉ được bán hóa chất cần kiểm soát đặc biệt cho các đối tượng sau đây:

+ Tổ chức có giấy phép kinh doanh hóa chất cần kiểm soát đặc biệt;

+ Tổ chức, cá nhân sử dụng hóa chất cần kiểm soát đặc biệt đã thực hiện công bố loại hóa chất và mục đích sử dụng hóa chất trên Cơ sở dữ liệu chuyên ngành hóa chất.

- Cơ quan có thẩm quyền quy định cụ thể biểu mẫu, thời hạn, phương thức và lộ trình thực hiện lập phiếu kiểm soát mua, bán hóa chất cần kiểm soát đặc biệt trên Cơ sở dữ liệu chuyên ngành hóa chất.

Trong khi trước đây, việc mua, bán hóa chất độc phải có phiếu kiểm soát, có xác nhận của bên mua, bên bán để làm cơ sở cho việc kiểm soát hóa chất độc lưu thông trên thị trường. Phiếu kiểm soát mua, bán hóa chất độc phải được lưu giữ tại bên bán, bên mua ít nhất năm năm và phải xuất trình khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.

2.10. Hướng dẫn về các trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất

Điều 12 Luật Hóa chất 2025 bổ sung hướng dẫn về các trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất như sau:

* Các trường hợp được xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất có điều kiện

- Tổ chức sản xuất hóa chất có điều kiện được xuất khẩu hóa chất do chính tổ chức đó sản xuất theo Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất hóa chất có điều kiện;

- Tổ chức kinh doanh hóa chất có điều kiện được xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất theo Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hóa chất có điều kiện để phục vụ mục đích kinh doanh;

- Tổ chức, cá nhân sử dụng hóa chất được nhập khẩu hóa chất có điều kiện để phục vụ mục đích sử dụng của tổ chức, cá nhân đó.

* Các trường hợp được xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt

- Tổ chức sản xuất hóa chất cần kiểm soát đặc biệt được xuất khẩu hóa chất do chính tổ chức đó sản xuất theo Giấy phép sản xuất hóa chất cần kiểm soát đặc biệt và Giấy phép xuất khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt;

- Tổ chức kinh doanh hóa chất cần kiểm soát đặc biệt được xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất theo Giấy phép kinh doanh hóa chất cần kiểm soát đặc biệt và Giấy phép xuất khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt, Giấy phép nhập khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt để phục vụ mục đích kinh doanh;

- Tổ chức, cá nhân sử dụng hóa chất cần kiểm soát đặc biệt đã thực hiện công bố loại hóa chất và mục đích sử dụng hóa chất trên Cơ sở dữ liệu chuyên ngành hóa chất được nhập khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt theo Giấy phép nhập khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt để phục vụ mục đích sử dụng của tổ chức, cá nhân đó.

2.11. Quy định mới về giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất

Một số quy định mới về giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất quy định tại Điều 12 Luật Hóa chất 2025:

- Giấy phép xuất khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt, Giấy phép nhập khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt được cấp cho từng hóa đơn xuất khẩu, hóa đơn nhập khẩu và có thời hạn 06 tháng kể từ ngày cấp;

- Giấy phép xuất khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt, Giấy phép nhập khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt được gia hạn trong trường hợp hết thời hạn ghi trong Giấy phép nhưng việc xuất khẩu, nhập khẩu chưa thực hiện được hoặc thực hiện chưa xong. Giấy phép chỉ được gia hạn 01 lần và có thời hạn không quá 06 tháng kể từ ngày cấp phép gia hạn.

- Giấy phép nhập khẩu hóa chất cấm được cấp cho từng lô hàng nhập khẩu và có thời hạn nhập khẩu là 06 tháng kể từ ngày cấp.

2.12. Các trường hợp được miễn trừ khai báo hóa chất nhập khẩu

Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hóa chất phải thực hiện khai báo hóa chất nhập khẩu, trừ các trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật Hóa chất 2025:

- Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hóa chất cần kiểm soát đặc biệt không phải thực hiện khai báo hóa chất nhập khẩu;

- Tổ chức nhập khẩu hóa chất cấm không phải thực hiện khai báo hóa chất nhập khẩu;

- Trường hợp miễn trừ khác theo quy định của Chính phủ.

2.13. Bổ sung yêu cầu đối với hoạt động tồn trữ hóa chất

Điều 14 Luật Hóa chất 2025 Bổ sung một số yêu cầu đối với hoạt động tồn trữ hóa chất như sau:

- Đối với hóa chất có điều kiện, hóa chất cần kiểm soát đặc biệt: Tổ chức, cá nhân phải có kho chứa để thực hiện tồn trữ hóa chất hoặc sử dụng dịch vụ tồn trữ hóa chất của tổ chức được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ tồn trữ hóa chất.

Hóa chất cấm phải được tồn trữ tại kho riêng hoặc khu vực riêng biệt của kho chứa hóa chất. Việc tổ chức tồn trữ hóa chất cấm phải lập sổ theo dõi.

Luật Hóa chất 2025 là bước cụ thể hóa quan trọng, kịp thời thể chế hóa đầy đủ, toàn diện các chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển bền vững ngành công nghiệp hóa chất, đồng thời góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn xã hội, bảo vệ con người, cơ sở vật chất, tài sản, môi trường.

Luật Hóa chất năm 2025 là bước tiến quan trọng trong hoàn thiện thể chế pháp luật về an toàn hóa chất, góp phần bảo vệ con người, môi trường và phát triển bền vững ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam./.

Lượt xem: 8