Đăng ký nhận tin
Chủ Nhật, ngày 05/4/2026

Nghị quyết về việc thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

Nghị quyết về việc thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH

1. Cơ sở pháp lý

- Hiến pháp và các văn bản pháp luật hiện hành có nhiều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó có các quyền dân sự cần được bảo vệ.

- Ở góc độ Hiến pháp, lợi ích công được bảo vệ bằng việc giao nhiệm vụ, quyền hạn cho các cơ quan nhà nước bao gồm: Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân[1],… Sau Hiến pháp, các luật trong từng lĩnh vực chuyên ngành đã thể hiện rõ yêu cầu bảo vệ lợi ích công trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Nhà ở, Luật Đất đai, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Thanh tra, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự,….

- Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân các năm 1960, 1981 đã quy định về nhiệm vụ khởi tố vụ án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân. Theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự có nhiệm vụ, quyền hạn khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân cùng cấp khởi tố những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân. Việc khởi tố vụ án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân được tiếp tục quy định tại Điều 17 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Điều 28 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và Điều 28 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động. Với sự ra đời của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, lịch sử hơn 40 năm hình thành và phát triển của ngành Kiểm sát nhân dân đã diễn ra một bước ngoặt quan trọng: Viện kiểm sát nhân dân không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội mà thực hiện chức năng cơ bản là thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp; đồng thời, trong tố tụng dân sự, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đã được xác định là thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp.

- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2005) là Bộ luật Tố tụng dân sự đầu tiên của nước ta thay thế Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động. Tại Điều 162 Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự của cơ quan, tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Quy định trên được tiếp tục kế thừa khi ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung vào năm 2011) và đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quy định đã được mở rộng và cụ thể hơn. Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể về thẩm quyền, chủ thể thực hiện, nhóm lĩnh vực được bảo vệ để các cơ quan, tổ chức, cá nhân chủ động thực hiện quyền khởi kiện của mình. Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật về lao động, hôn nhân và gia đình, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,...cũng đã quy định các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện nhằm bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công.

Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định về cơ chế Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công khi các cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không khởi kiện.

2. Cơ sở thực tiễn

- Theo quy định tại Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công thông qua việc khởi kiện vụ án dân sự được giao cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân[2]. Tuy nhiên, thực tiễn thời gian qua các cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa thực hiện, thực hiện chưa đầy đủ hoặc chưa hiệu quả trách nhiệm của mình dẫn đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm dễ bị tổn thương chưa được bảo vệ hiệu quả theo quy định của pháp luật[3]. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là do các cơ quan, tổ chức không đủ nguồn lực, năng lực, kinh nghiệm để tham gia tố tụng; pháp luật chưa quy định về cơ chế bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tốt quyền khởi kiện vụ án dân sự trong các trường hợp này.

- Qua thực tiễn thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết các vụ án, vụ việc trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính, Viện kiểm sát nhân dân đã phát hiện nhiều trường hợp tội phạm, vi phạm; mặc dù các chủ thể vi phạm đã bị xử lý về trách nhiệm hình sự nhưng phần dân sự gây thiệt hại cho Nhà nước, cho nhóm dễ bị tổn thương vẫn chưa được khắc phục triệt để[4]; hoặc có trường hợp vi phạm chưa đến mức phải xử lý trách nhiệm hình sự nhưng phải giải quyết vấn đề dân sự để khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho Nhà nước hoặc cho nhóm dễ bị tổn thương thì không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào khởi kiện, yêu cầu nên đã dẫn đến gây thất thoát, lãng phí, thiệt hại cho Nhà nước, quyền và lợi ích của nhóm dễ bị tổn thương chưa được bảo vệ triệt để, hiệu quả.

II. MỤC ĐÍCH BAN HÀNH, QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG NGHỊ QUYẾT

1. Mục đích ban hành Nghị quyết

- Thực hiện thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công khi không có người khởi kiện nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn hiện nay.

- Đánh giá tính hiệu quả của cơ chế Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện để bảo vệ quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công trong trường hợp không có người khởi kiện. Trên cơ sở đó, sau khi kết thúc thí điểm sẽ tiến hành tổng kết, đưa ra đề xuất, kiến nghị phù hợp.

2. Quan điểm xây dựng Nghị quyết

Việc xây dựng Nghị quyết phải tuân thủ các quan điểm chỉ đạo sau:

- Phù hợp Hiến pháp năm 2013 và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự, dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, thi hành án dân sự, pháp luật khác có liên quan, phù hợp với các điều ước quốc tế Việt Nam tham gia hoặc là thành viên, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm, tội phạm hiện nay cũng như trong thời gian tới.

- Bám sát quy định của Đảng, yêu cầu của Quốc hội, Chính phủ về chỉ tiêu biên chế, tinh gọn bộ máy, tiết kiệm, chống lãng phí, tránh phát sinh kinh phí.

- Tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước.

- Bảo đảm đúng lộ trình theo yêu cầu của Bộ Chính trị tại Kết luận số 120-KL/TW, ngày 22/01/2025.

III. BỐ CỤC, NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT

1. Về bố cục

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề xuất dự thảo Nghị quyết gồm 04 Chương và 19 Điều gồm:

- Chương I. Quy định chung;

- Chương II. Xác minh thông tin và thu thập chứng cứ của vụ án dân sự công ích;

- Chương III. Khởi kiện, thụ lý, giải quyết vụ án dân sự công ích;

- Chương IV. Điều khoản thi hành.

2. Về nội dung cơ bản của Nghị quyết

2.1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

- Nghị quyết này quy định việc thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công khi không có người khởi kiện (sau đây gọi là vụ án dân sự công ích).

- Nghị quyết này áp dụng đối với Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát), Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án), cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc khởi kiện, giải quyết vụ án dân sự công ích.

2.2. Quy định Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự công ích trong trường hợp không có người khởi kiện để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công và việc bảo đảm quyền khởi kiện của Viện kiểm sát nhân dân

a) Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, thu thập, thụ lý thông tin về vi phạm; các biện pháp xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh vi phạm; thông báo cho các chủ thể có liên quan; kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, trách nhiệm khởi kiện.

b) Quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân để bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện của Viện kiểm sát nhân dân; trách nhiệm của các tổ chức giám định tư pháp, định giá,…hỗ trợ Viện kiểm sát nhân dân trong việc thu thập chứng cứ để chứng minh vi phạm và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công.

c) Quy định nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, trách nhiệm khởi kiện theo quy định của pháp luật trong việc trả lời cho Viện kiểm sát nhân dân về việc thực hiện quyền, trách nhiệm khởi kiện.

d) Quy định trong trường hợp các cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Viện kiểm sát nhân dân hỗ trợ khởi kiện khi có đề nghị.

đ) Quy định về các trường hợp Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự công ích.

2.3. Quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự công ích

a) Việc khởi kiện và giải quyết vụ án dân sự công ích được thực hiện theo Nghị quyết này; trường hợp Nghị quyết này không quy định thì áp dụng quy định tương ứng của Bộ luật Tố tụng dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

b) Quy định về thẩm quyền xét xử vụ án dân sự công ích; trách nhiệm của Toà án nhân dân trong việc thụ lý vụ án dân sự công ích;

c) Quy định những điểm đặc thù về thủ tục tố tụng trong các vụ án dân sự công ích khác với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường gồm:

- Quy định về quyền phản tố của bị đơn theo hướng trong vụ án dân sự Viện kiểm sát khởi kiện để bảo vệ lợi ích công, thì bị đơn không có quyền đưa ra yêu cầu phản tố.

- Quy định về nguyên tắc tiến hành hoà giải trong các vụ án dân sự công ích.

2.4. Quy định về tổ chức thực hiện Nghị quyết

a) Về tổ chức thực hiện

- Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức có liên quan, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tổ chức thi hành Nghị quyết này.

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo Quốc hội về kết quả thực hiện Nghị quyết trong báo cáo công tác hằng năm và kết quả tổng kết khi kết thúc việc thực hiện Nghị quyết.

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, các cơ quan, tổ chức có liên quan hướng dẫn thi hành Nghị quyết này.

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

b) Về hiệu lực thi hành

- Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 và được thực hiện trong 03 năm tại các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Đắk Lắk. Hiện nay, 06 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương dự kiến tiến hành thí điểm đang được sắp xếp theo Nghị quyết số 60-NQ/TW, ngày 12/4/2025 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và vẫn giữ nguyên tên gọi. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xin phép trình Quốc hội về hiệu lực thi hành của Nghị quyết với phạm vi 06 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nêu trên đúng theo chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận số 120-KL/TW. Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ tổ chức, bố trí, sắp xếp đủ các điều kiện bảo đảm, đáp ứng thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao sau khi Nghị quyết được thông qua và có hiệu lực thi hành.

- Thời điểm Nghị quyết này hết hiệu lực thi hành mà vụ án được giải quyết theo quy định của Nghị quyết này chưa kết thúc thì được tiếp tục thực hiện cho đến khi có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật./.

[1] Khoản 6 Điều 96, khoản 3 Điều 102, Điều 107 Hiến pháp năm 2013.

[2]Bao gồm: (1) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; (2) Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật ; (3) Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ; (4) Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật; (5) Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình

[3]Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Từ ngày 01/01/2005 đến 30/12/2023: Số vụ việc mà các cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ lợi ích công và nhóm dễ bị tổn thương là 86 vụ việc/5.548.748 vụ việc, chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ đạt 0,0016%.

[4]Qua thực tiễn xử lý các vụ án hình sự liên quan đến các tội phạm về tài chính, ngân hàng, đất đai, tài nguyên, môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, y tế,…thì những vụ án này thường liên quan đến lợi ích nhà nước, lợi ích công và nhóm người dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, vấn đề thu hồi tài sản và bồi thường thiệt hại về dân sự trong các vụ án hình sự này thường không được giải quyết triệt để.

Lượt xem: 7