Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
TÀI LIỆU GIỚI THIỆU, PHỔ BIẾN LUẬT THAM GIA
LỰC LƯỢNG GÌN GIỮ HÒA BÌNH CỦA LIÊN HỢP QUỐC
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT
1. Cơ sở chính trị
Ngày 23/11/2012, Bộ Chính trị thông qua “Đề án Tổng thể về việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc”, trên cơ sở đó, ngày 05/12/2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc giai đoạn 2014 - 2020 và những năm tiếp theo” của Bộ Quốc phòng và ngày 30/10/2013 phê duyệt “Đề án Công an nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc giai đoạn 2014 - 2020 và những năm tiếp theo” của Bộ Công an. Ngày 30/10/2020, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 241-QĐ/TW về thẩm quyền, quy trình cử, điều chỉnh, rút lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc. Đây là cơ sở chính trị đầu tiên cho hoạt động tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc của Việt Nam.
Trong thời gian vừa qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều văn bản, chỉ đạo quan trọng trong xây dựng, phát triển đất nước, hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, như: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII; Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV;…
Riêng đối với hoạt động tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc cũng có các văn bản định hướng, chỉ đạo trực tiếp như: Nghị quyết số 34-NQ/TW ngày 09/02/2024 của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng; Kết luận số 53-KL/TW ngày 23/4/2023 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo; Kết luận số 71-KL/TW ngày 16/02/2024 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ, giải pháp, giải pháp lớn triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng; Kết luận số 82-KL/TW ngày 07/06/2024 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và đối ngoại Công an nhân dân đến năm 2030 và những năm tiếp theo; Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 08/8/2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 và Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 củ Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Để kịp thời thể chế hoá đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đặt ra yêu cầu cần sớm nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc của Việt Nam.
2. Cơ sở pháp lý
Điều 64 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.”; Điều 65 quy định: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”; …Các quy định trên tại Hiến pháp năm 2013 là những cơ sở pháp lý quan trọng để cử các lực lượng vũ trang của Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc.
Thể chế hoá quy định của Hiến pháp năm 2013, ngày 13/11/2020, Quốc hội khoá XIV đã thông qua Nghị quyết số 130/2020/QH14 về tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc.
Để tiếp tục thể chế hoá đầy đủ đường lối, quy định của Hiến pháp năm 2013, các cam kết quốc tế về tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc của Việt Nam, tại Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15 ngày 05/11/2021 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội triển khai thực hiện Kết luận số 19-KL/TW của Bộ Chính trị và Đề án Định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV đã giao Chính phủ nghiên cứu, xây dựng dự án Luật điều chỉnh về tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc.
Ngày 05/01/2024, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP về phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 12/2023, đã thông qua đề nghị xây dựng Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc và nhất trí trình Quốc hội xem xét, đưa dự án Luật vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025.
Ngày 08/6/2024, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 129/2024/QH15 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, trong đó đưa dự án Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025.
3. Cơ sở thực tiễn
Hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc là cơ chế đặc biệt dựa trên sự đóng góp của các quốc gia thành viên về nguồn lực và lực lượng, được đặt dưới sự chỉ huy của Liên hợp quốc theo các quy định về an ninh tập thể của Hiến chương Liên hợp quốc; thể hiện dưới hình thức các phái bộ được Liên hợp quốc cử đến các khu vực đã tạm dừng xung đột hoặc đã có thỏa thuận hòa bình để gìn giữ hòa bình tại các khu vực này. Kể từ khi triển khai hoạt động gìn giữ hoà bình lần đầu tiên năm 1948, đến nay Liên hợp quốc đã triển khai 71 phái bộ gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc trên khắp thế giới. Tính đến tháng 8/2023, có tất cả 14 phái bộ gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc đang được triển khai với tổng số gần 103.200 nhân viên; trên 120 trong số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã và đang cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc.
Là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã tích cực, chủ động trong việc tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc. Để triển khai thực hiện, Quốc hội, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các Bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện. Việt Nam cũng đã tuyên bố và tham gia ký kết các quy định liên quan đến việc tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc, như: Tuyên bố ngày 31/5/2013 tại Đối thoại Shang-ri La (Diễn đàn An ninh châu Á) tổ chức ở Xinh-ga-po: Việt Nam quyết định tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc, trước hết là trong các lĩnh vực Công binh, Quân y, Quan sát viên Quân sự; Tuyên bố ngày 28/9/2015 tại Hội nghị Thượng đỉnh hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc trong khuôn khổ Khóa họp 70 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc: Việt Nam sẽ sớm cử Bệnh viện dã chiến cấp 2 và Đơn vị công binh, đồng thời tiếp tục cử các sĩ quan liên lạc, sĩ quan tham mưu tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc;...
Kết quả, từ năm 1996, Việt Nam đã tham gia đóng góp nghĩa vụ tài chính hằng năm cho hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc; đồng thời, tổ chức nhiều chuyến khảo sát phái bộ gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc cũng như tại Trụ sở Liên hợp quốc. Các lực lượng Việt Nam đã và đang hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Lãnh đạo Liên hợp quốc, Chỉ huy phái bộ, Chính quyền nước sở tại và cộng đồng quốc tế đánh giá cao; góp phần thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; thể hiện Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; nâng cao hơn nữa uy tín, vị thế của Việt Nam, đóng góp vào chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình.
Về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Việt Nam đã ký kết 10 Bản ghi nhớ (MOU) với các đối tác (chủ yếu là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc), gồm: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Ca-na-đa, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ốt-xtrây-lia, Niu Di-lân; 02 Bản ghi nhớ với Liên hợp quốc về triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 đến Phái bộ Nam Xu-đăng và triển khai Đội Công binh đến Phái bộ Abyei; 01 Thỏa thuận Đối tác gìn giữ hòa bình với Chính phủ Ốt-xtrây-lia (được nâng cấp từ Bản ghi nhớ); đến nay, Việt Nam đã nhận được hỗ trợ của quốc tế về gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc trên 20 triệu đô-la Mỹ, trong đó: Ốt-xtrây-lia hỗ trợ các khóa tiếng Anh cho lực lượng quân y và công binh; các khóa tập huấn về gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Ốt-xtrây-lia; các chuyến bay vận chuyển con người và trang bị của Bệnh viện dã chiến cấp 2; viện trợ một số trang bị như xe cứu thương, máy phát điện, thiết bị y tế, hệ thống phiên dịch…; Hoa Kỳ hỗ trợ tổ chức các khóa huấn luyện sĩ quan tham mưu, hậu cần, quan sát viên quân sự Liên hợp quốc; trang thiết bị cho quân y, phương tiện huấn luyện công binh; giảng đường, nhà ở chuyên gia; Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh,… hỗ trợ về huấn luyện, chia sẻ kinh nghiệm, chuyên môn, khảo sát phái bộ. Hiện nay, các hoạt động hợp tác quốc tế về gìn giữ hòa bình chưa được quy định cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật, do đó, việc bổ sung nội dung này tại Luật là cần thiết để tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước, đồng thời tạo cơ chế, chính sách cụ thể trong quá trình thực hiện.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc thời gian qua đã phát sinh những hạn chế, bất cập trong công tác tổ chức xây dựng lực lượng; cơ chế, quy trình triển khai lực lượng tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc chưa đầy đủ, chặt chẽ; công tác bảo đảm nguồn lực, tài chính, chế độ, chính sách chưa đáp ứng được tình hình thực tiễn; công tác bồi thường thiệt hại chưa có cơ chế xử lý;... Những hạn chế, bất cập này một phần xuất phát từ việc thiếu cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý chưa đủ mạnh, chưa đáp ứng được tình hình thực tế của công tác tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc. Mặc dù Hiến pháp năm 2013 đã quy định chủ trương về việc “tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới”, tuy nhiên, Nghị quyết số 130/2020/QH14 chưa thể chế hoá đầy đủ quy định của Hiến pháp, chưa có các quy định về: phạm vi, đối tượng tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc; quy trình triển khai lực lượng; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước; chế độ, chính sách đối với lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc; công tác đảm bảo cho hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc; chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lý, chỉ huy, chỉ đạo, điều hành lực lượng tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc;…
Từ các lý do trên, việc xây dựng, ban hành Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc là cần thiết, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, vững chắc, lâu dài, ổn định cho việc triển khai lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc, đồng thời củng cố sự đồng thuận chính trị và sự ủng hộ của xã hội đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đóng góp vào sứ mệnh cao cả gìn giữ hòa bình thế giới của Liên hợp quốc.
II. MỤC ĐÍCH BAN HÀNH, QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT
1. Mục đích ban hành văn bản
Việc xây dựng Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc; kịp thời thể chế hoá đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; khắc phục những tồn tại, hạn chế của quy định hiện hành; nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ huy, chỉ đạo, điều hành, thực hiện nhiệm vụ; đảm bảo hợp lý chế độ, chính sách; rút ngắn quy trình, thủ tục pháp lý trong việc cử, điều chỉnh, gia hạn nhiệm kỳ công tác, rút lực lượng, nhất là rút lực lượng trong trường hợp khẩn cấp; xử lý những vấn đề phát sinh tại địa bàn.
2. Quan điểm xây dựng luật
Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ chủ trương, quan điểm của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII; Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Quán triệt đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế đất nước; vì lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng về hội nhập quốc tế, trong đó có chủ trương “Tăng cường, nâng cao năng lực tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc” nêu tại Nghị quyết số 34-NQ/TW ngày 09/01/2023 của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng; thể chế hoá đầy đủ “Đề án Tổng thể về việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc” đã được Bộ Chính trị thông qua ngày 23/11/2012.
Thứ hai, đảm bảo quy định phù hợp với quy định của Hiến chương Liên hợp quốc, các điều ước và thỏa thuận quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Thứ ba, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất của Luật với hệ thống pháp luật Việt Nam; bảo đảm tính khả thi, ổn định của Luật, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam.
Thứ tư, bám sát 03 nhóm chính sách trong Đề nghị xây dựng Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc đã được Chính phủ, Quốc hội thông qua để quy phạm hóa tại dự thảo Luật; bảo đảm hiệu quả, thống nhất công tác quản lý nhà nước về việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc.
Thứ năm, việc xây dựng dự án Luật được tiến hành trên cơ sở tổng kết thực tiễn trong những năm qua; kế thừa, phát triển các quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm đang phù hợp tại Nghị quyết số 130/2020/QH14 về tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc; khắc phục những hạn chế, bất cập, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc triển khai thực hiện tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc trên thực tế.
III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT
1. Bố cục
Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (Luật số 92/2025/QH15) gồm 05 Chương, 27 Điều, quy định về nguyên tắc, vị trí, chức năng, đối tượng, hình thức, lĩnh vực, hợp tác quốc tế, xây dựng, triển khai lực lượng, bảo đảm nguồn lực, chế độ, chính sách và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Cụ thể như sau:
Chương I. Những quy định chung (gồm 12 Điều: Từ Điều 1 đến Điều 12);
Chương II. Xây dựng và chỉ đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc (gồm 07 Điều: Từ Điều 13 đến Điều 19);
Chương III. Thẩm quyền, quy trình, cử, điều chỉnh, gia hạn nhiệm kỳ công tác, rút lực lượng (gồm 05 Điều: Từ điều 20 đến Điều 24);
Chương IV. Kinh phí bảo đảm và chế độ, chính sách (gồm 02 Điều: Từ Điều 25 đến Điều 26);
Chương IV. Điều khoản thi hành (gồm 01 Điều: Điều 27).
2. Những nội dung chủ yếu trong Luật tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc
Trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Nghị quyết số 130/2020/QH14 ngày 13/11/2020 của Quốc hội về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc bổ sung một số nội dung như sau:
2.1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
Luật này quy định về nguyên tắc, đối tượng, hình thức, lĩnh vực; xây dựng, triển khai lực lượng; đảm bảo nguồn lực, chế độ, chính sách; hợp tác quốc tế về gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.
Đối tượng điều chỉnh tại dự thảo Luật bao gồm: (1) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ và đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng; Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an, chiến sĩ và đơn vị thuộc Bộ Công an được cử tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; (2) Cán bộ, công chức, viên chức được cử tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; (3) Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Như vậy, Luật đã mở rộng phạm vi và bổ sung đối tượng dân sự tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc.
Về các hành vi bị nghiêm cấm trong tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc, đây cũng là quy định mới so với Nghị quyết số 130/2020/QH14. Trên thực tế, ý thức dân tộc, ý thức trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật của các cá nhân, đơn vị tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc rất tốt; tuy nhiên, xuất phát từ vị trí, vai trò của lực lượng này là đại diện cho nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia các hoạt động bảo vệ hòa bình trong khu vực và trên thế giới trong khuôn khổ Liên hợp quốc; do đó, cần thiết có quy định về các hành vi bị nghiêm cấm khi tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc vì an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.
2.2. Hình thức và lĩnh vực tham gia
Hình thức tham gia bao gồm cá nhân và đơn vị: (i) Cá nhân là con người cụ thể có chức danh đơn lẻ đáp ứng các tiêu chuẩn của Liên hợp quốc được cử đi theo quyết định của cấp có thẩm quyền; (ii) Đơn vị là tổ chức đáp ứng các tiêu chuẩn của Liên hợp quốc được cử đi theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Lĩnh vực tham gia bao gồm: Tham mưu, hậu cần, kỹ thuật; Công binh, bộ binh, trinh sát, bảo vệ, vận tải, quân y, kiểm soát quân sự; Quan sát viên quân sự; Thông tin, liên lạc, truyền thông; Cảnh sát; Quan sát và giám sát bầu cử; Hoạch định chính sách, y tế, luật pháp và các lĩnh vực dân sự khác; Lĩnh vực khác theo đề nghị của Liên hợp quốc. Luật bổ sung quy định rõ hình thức tham gia; bổ sung lĩnh vực tham gia là hoạch định chính sách, y tế, pháp luật và các lĩnh vực dân sự khác, đảm bảo phù hợp với đối tượng dân sự tham gia.
2.3. Vị trí, chức năng, nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền hạn
Luật đã bổ sung về vị trí, chức năng của lực lượng Việt Nam và quy định rõ hơn về nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền hạn. Cụ thể:
Lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là lực lượng được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cử tham gia vào lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, nhằm thể hiện vai trò và trách nhiệm của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam.
Chức năng của lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là duy trì, bảo vệ hòa bình khu vực và thế giới, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc có nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền hạn sau:
Tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước; thực hiện nhất quán đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là về đối ngoại, hội nhập quốc tế;
Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, pháp luật quốc tế, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; thực hiện tham mưu về quy mô, lĩnh vực, hình thức và địa bàn tham gia;
Tuyên truyền đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam, phát huy giá trị lịch sử, văn hóa, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; báo cáo cấp có thẩm quyền của Việt Nam quyết định việc từ chối nhiệm vụ khi có nguy cơ mất an toàn; sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ đúng mục đích; giữ gìn, bảo quản đúng chế độ, đúng quy trình, bảo đảm an toàn.
Lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc được sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam và của Liên hợp quốc để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và Liên hợp quốc trên cơ sở thỏa thuận giữa Việt Nam và Liên hợp quốc.
2.4. Quản lý nhà nước; xây dựng lực lượng; chỉ đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành
Luật quy định lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc gồm: (i) Lực lượng vũ trang (được trang bị vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ); (ii) Lực lượng dân sự (là cán bộ, công chức, viên chức được trang bị phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ).
Vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ của lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, bao gồm: (1) Vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ do Việt Nam trang bị theo yêu cầu của Liên hợp quốc, được Liên hợp quốc bồi hoàn theo thỏa thuận giữa Việt Nam và Liên hợp quốc trong quá trình sử dụng. (2) Trang bị do Liên hợp quốc cấp. (3) Trang bị, vật tư do Việt Nam tự bảo đảm để hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về việc tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các Bộ, Ban, ngành, địa phương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
Về chỉ đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, Chính phủ thống nhất chỉ đạo lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Tại mỗi Phái bộ có một Chỉ huy trưởng lực lượng Việt Nam. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành lực lượng thuộc phạm vi quản lý của mình; Ban, Bộ, ngành, địa phương chỉ đạo, quản lý, điều hành lực lượng dân sự thuộc quyền.
2.5. Thẩm quyền, quy trình cử, điều chỉnh, gia hạn nhiệm kỳ công tác, rút lực lượng
Hội đồng Quốc phòng và An ninh quyết định việc cử, điều chỉnh, gia hạn nhiệm kỳ công tác, rút lực lượng vũ trang; Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với lực lượng dân sự. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định việc rút lực lượng về nước trong trường hợp khẩn cấp và gia hạn nhiệm kỳ công tác đối với lực lượng thuộc quyền đang triển khai thực hiện nhiệm vụ tại địa bàn và báo cáo Hội đồng Quốc phòng và An ninh. Người đứng đầu Bộ, Ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định gia hạn nhiệm kỳ công tác, rút lực lượng dân sự thuộc quyền về nước trong trường hợp khẩn cấp và báo cáo Thru tướng Chính phủ.
Trường hợp rút toàn bộ lực lượng Việt Nam tại một Phái bộ thì Bộ trưởng Bộ chủ quản của Chỉ huy trưởng lực lượng Việt Nam tại Phái bộ thống nhất với người đứng đầu Bộ, Ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan quyết định rút lực lượng và báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định.
2.6. Tuyển chọn, huấn luyện, đào tạo lực lượng
Lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc được tuyển chọn từ các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ, Ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Luật giao Bộ, Ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn đối với lực lượng thuộc phạm vi quản lý của mình, đáp ứng yêu cầu của Liên hợp quốc theo từng đơn vị, vị trí tuyển chọn.
Lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc được đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng kiến thức về gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; chuyên môn nghiệp vụ; huấn luyện tiền triển khai theo chương trình của Liên hợp quốc; ngoại ngữ; bình đẳng giới và các kỹ năng khác; tham gia các khóa tập huấn gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc trong và ngoài nước.
Luật giao Bộ, Ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chương trình, thời gian đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng lực lượng thuộc phạm vi quản lý của mình đáp ứng yêu cầu của Liên hợp quốc.
2.7. Chế độ, chính sách
Luật quy định chính sách của Nhà nước về xây dựng lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc đáp ứng yêu cầu hiện đại, chuyên nghiệp và phù hợp với tiêu chuẩn của Liên hợp quốc; khuyến khích và ưu tiên nữ giới tham gia; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, vũ khí trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ đáp ứng điều kiện thực hiện nhiệm vụ tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; có chế độ, chính sách ưu đãi trong đào tạo, bố trí, sử dụng, tuyển dụng, tuyển chọn đối với cá nhân đã hoàn thành nhiệm vụ tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc .
Lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc trong thời gian làm nhiệm vụ ở nước ngoài được hưởng chế độ tiền lương, phụ cấp và các chế độ, chính sách ưu đãi khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và quy định của Liên hợp quốc; trong thời gian huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng, khi hoàn thành nhiệm vụ về nước được hưởng chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ.
2.8. Hợp tác quốc tế
Luật quy định về nguyên tắc, nội dung và hình thức hợp tác quốc tế về tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc Phát huy sức mạnh nội lực và sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế trong thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc.
Nội dung hợp tác quốc tế bao gồm: Đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng, tập huấn, trao đổi chuyên môn, diễn tập, chia sẻ kinh nghiệm trong hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc; viện trợ đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, phương tiện và các nguồn lực khác cho lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; và các nội dung hợp tác quốc tế khác theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2.9. Ngày truyền thống
Ngày 27 tháng 5 hằng năm là ngày truyền thống của lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
VI. CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CHO VIỆC THI HÀNH LUẬT
1. Về nguồn lực nhân sự
Nguồn nhân lực tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc từ các cơ quan, đơn vị trong Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các cơ quan, tổ chức thuộc Chính phủ được tuyển chọn, huấn luyện, đào tạo và cử đi làm nhiệm vụ; sau khi hoàn thành nhiệm vụ, được điều động về cơ quan, đơn vị cũ công tác hoặc điều động theo yêu cầu nhiệm vụ.
Các Bộ, Ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo chức năng nhiệm vụ, hỗ trợ các hoạt động chuẩn bị, triển khai; chỉ huy điều hành lực lượng tại địa bàn; quản lý, điều động lực lượng sau khi hoàn thành nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
2. Về nguồn lực tài chính
Kinh phí đảm bảo cho việc tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc lấy từ nguồn ngân sách nhà nước được giao cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các cơ quan, tổ chức thuộc Chính phủ có lực lượng trực tiếp tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, bao gồm các chi phí cho nhiệm vụ chuẩn bị triển khai lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (chi phí đoàn đi công tác, đón các đoàn quốc tế liên quan, bảo quản sửa chữa trang bị gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; nghiệp vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; huấn luyện nghiệp vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; mua sắm trang thiết bị gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc). Ngoài ra, còn lấy từ các nguồn hỗ trợ của cộng đồng trong nước và quốc tế (hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo... cho hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc).
Tiền bồi hoàn của Liên hợp quốc được nộp vào ngân sách nhà nước và quản lý, sử dụng theo quy định pháp luật, trong đó ưu tiên cho xây dựng lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
3. Về cơ sở vật chất
Các Bộ, Ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo Luật giao được tuyển chọn nhân sự, sửu dụng cơ sở vật chất của mình để tổ chức huấn luyện theo chương trình đáp ứng yêu cầu của Liên hợp quốc và phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ, chuyên ngành của từng vị trí, chức danh Liên hợp quốc tuyển chọn. Bên cạnh đó, Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam có cơ sở vật chất và đã từng tổ chức nhiều khóa huấn luyện, đào tạo quốc tế theo tiêu chuẩn của Liên hợp quốc, được Liên hợp quốc đánh giá cao; đồng thời, đã hỗ trợ huấn luyện cho các sĩ quan của Bộ Công an trước khi triển khai đến Phái bộ. Do vậy, Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam cũng có thể hỗ trợ các Bộ, Ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để huấn luyện cho lực lượng trước khi triển khai đi làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
VII. DỰ BÁO TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH ĐẾN NGƯỜI DÂN VÀ XÃ HỘI SAU KHI LUẬT ĐƯỢC THÔNG QUA
Thứ nhất, Luật được ban hành nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, quy định của Hiến pháp, chính sách và pháp luật của Nhà nước, bảo đảm đồng bộ trong hệ thống pháp luật, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tạo hành lang pháp lý đầy đủ, vững chắc, lâu dài, ổn định cho việc triển khai lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; đồng thời, đối tượng tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc không chỉ lực lượng vũ trang mà bao gồm cả đối tượng dân sự; qua đó, phát huy nguồn nhân lực toàn diện, thể hiện trách nhiệm và đóng góp nhiều hơn của Việt Nam trong lĩnh vực này, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Do vậy, các đối tượng tham gia trên tinh thần tự nguyện cống hiến và là niềm vinh dự, tự hòa đại diện cho Việt Nam đi thực hiện nhiệm vụ quốc tế có ý nghĩa nhân văn cao cả.
Thứ hai, các đối tượng tham gia, cả lực lượng vũ trang và dân sự đều thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm, do cơ quan chủ quản chỉ dạo, quản lý điều hành và sau khi hoàn thành nhiệm vụ về nước do cơ quan chủ quản sử dụng, quản lý và điều động, nên không bị xáo trộn hay thay đổi môi trường làm việc.
Thứ ba, Luật quy định đảm bảo chế độ, chính sách ưu đãi đối với lực lượng tham gia, ngoài các chế độ, chính sách trong nước theo quy định của pháp luật cũng như khuyến khích và ưu tiên nữ giới tham gia, đảm bảo mục tiêu bình đẳng giới.
Thứ tư, lực lượng tham gia được tuyển chọn công khai, minh bạch, kỹ lưỡng, đáp ứng các tiêu chí của Liên hợp quốc; được huấn luyện, đào tạo bài bản trước khi triển khai và trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, được tạo điểm kiện và các công tác đảm bảo cho hoàn thành tốt nhiệm vụ, an toàn tuyệt đối.
Thứ năm, sau khi hoàn thành nhiệm vụ được đảm bảo chế độ, chính sách ưu đãi trong đào tạo, bố trí, sử dụng, tuyển dụng...
Từ những yếu tố trên, đối với người dân và xã hội không bị tác động chính sách chi phối như không làm phát sinh thủ tục hành chính, không có tác động tiêu cực về kinh tế, không có những vấn đề liên quan đến giới,…
VIII. TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT
Để tổ chức thi hành Luật hiệu quả, theo sự phân công của Chính phủ, Bộ Quốc phòng chủ trì cùng Bộ Công an phối hợp với các Bộ, Ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành; trên cơ sở Kế hoạch triển khai thi hành Luật của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng sẽ tổ chức tập tập huấn, hướng dẫn, tuyên truyền và phổ biến các nội dung của Luật.
Về biên soạn tài liệu phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến Luật; tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành với nội dung, hình thức phù hợp cho từng đối tượng cụ thể nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết, trách nhiệm của cán bộ và nhân dân, nhất là đối với người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các Bộ và cơ quan có liên quan tổ chức tuyên truyền, tập huấn chuyên sâu, biên soạn, in, cấp phát tài liệu phổ biến Luật và văn bản quy định chi tiết thi hành Luật cho cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng; đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương; cán bộ, công chức, viên chức, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có liên quan nhằm nâng cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thi hành Luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng.
Các Bộ, ngành, địa phương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm phối hợp với các Bộ và cơ quan có liên quan để tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật và văn bản quy định chi tiết thi hành trong Bộ, ngành, địa phương mình.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì, phối hợp với các Bộ và cơ quan có liên quan chỉ đạo Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng kế hoạch tổ chức tuyên truyền sâu rộng tới mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức tập huấn chuyên sâu, biên soạn, in, cấp phát tài liệu phổ biến Luật và văn bản quy định chi tiết thi hành Luật, trong đó, chú trọng tuyên truyền, phổ biến Luật đối với cấp tỉnh trọng điểm và các địa bàn biên giới, biển, đảo, vùng sâu, vùng xa, nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của người dân về Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình cảu Liên hợp quốc.
Về xây dựng và ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các Bộ, Ban, ngành xây dựng 02 Nghị định của Chính phủ, gồm: (i) Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật (quy định chi tiết khoản 4 Điều 9, khoản 5 Điều 16, khoản 2 Điều 19, khoản 6 Điều 21, khoản 4 Điều 22, và khoản 5 Điều 24); (ii) Nghị định của Chính phủ về chế độ, chính sách cho lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (quy định chi tiết khoản 5 Điều 26).
Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các Bộ, Ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực được phân công, xây dựng Thông tư, Hướng dẫn về tiêu chuẩn, tiêu chí tuyển chọn, tổ chức, biên chế, vũ khí trang bị kỹ thuật, trang bị kỹ thuật nghiệp vụ; chương trình, nội dung, thời gian huấn luyện, đào tạo đối với lực lượng thuộc phạm vi quản lý của mình./
Lượt xem: 109