Đăng ký nhận tin
Chủ Nhật, ngày 05/4/2026

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự

TÀI LIỆU GIỚI THIỆU, PHỔ BIẾN LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

–––––––––––

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 27 tháng 6 năm 2025.

Ngày 27/6/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Tố tụng hình sự số 99/2025/QH15 (sau đây viết tắt là Luật). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

1. Cơ sở chính trị, pháp lý:

1. Cơ sở chính trị, pháp lý:

- Chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp: Các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết về cải cách tư pháp, luôn xác định rõ mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó có việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng. Các chủ trương này thường nhấn mạnh việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, tăng cường tính minh bạch, công khai, dân chủ trong hoạt động tư pháp. Việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) là cụ thể hóa các quan điểm, định hướng của Đảng trong lĩnh vực tư pháp hình sự, nhằm xây dựng một nền tư pháp hiện đại, công bằng, bảo vệ công lý.

- Ổn định chính trị - xã hội và bảo vệ an ninh quốc gia: Pháp luật tố tụng hình sự là công cụ sắc bén để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm. Sự phát triển của các loại hình tội phạm mới, phức tạp (tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm khủng bố...) đòi hỏi phải có các quy định tố tụng phù hợp để nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội.

- Sự phát triển và hoàn thiện của các luật liên quan: Các luật chuyên ngành khác có liên quan đến tố tụng hình sự như Bộ luật Hình sự, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Thi hành án hình sự, Luật Trợ giúp pháp lý... đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới. Để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất và tránh xung đột pháp luật, BLTTHS cần được sửa đổi để tương thích với các văn bản pháp luật này.

2. Cơ sở thực tiễn

- Việc tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy Công an địa phương: Căn cứ kết luận của cấp có thẩm quyền về tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy Công an địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân được tổ chức theo 02 cấp (Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh), không tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện. Để triển khai tổ chức bộ máy mới trong thực tiễn, căn cứ Nghị quyết số 190/2025/QH15, ngày 27/2/2025, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 11/2025/TT-BCA quy định về tổ chức, bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra; phân công Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; thẩm quyền điều tra hình sự trong Công an nhân dân. Theo đó, không tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện, chuyển chức năng, nhiệm vụ liên quan đến công tác điều tra hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh. Cùng với đó, ngày 27/02/2025, liên ngành tư pháp trung ương đã thống nhất ban hành Thông tư liên tịch số 02/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự khi không tổ chức công an cấp huyện để kịp thời xây dựng cơ sở pháp lý cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện hoạt động khi không tổ chức Công an cấp huyện.

- Về sự thay đổi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ của các cơ quan trong Bộ máy nhà nước:

+ Ngày 24/02/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2025/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính, ngày 26/02/2025, Bộ Tài chính, Cục Hải quan Bộ Tài chính ban hành các quyết định để điều chỉnh tên gọi, chức danh của các cơ quan, người được giao tiến hành một số hoạt động điều tra của Hải quan sau sắp xếp bộ máy, các cơ quan sau sắp xếp tiếp nhận lại toàn bộ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tương ứng. Theo đó, (1) Tổng cục Hải quan được tổ chức thành Cục Hải quan; (2) các Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục Kiểm tra sau thông quan được tổ chức thành Chi cục Điều tra chống buôn lậu, Chi cục Kiểm tra sau thông qua; (3) Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh thành phố trực thuộc trung ương sau sắp xếp được tổ chức thành các Chi cục Hải quan khu vực (gồm nhiều Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh sát nhập với nhau). Chi cục Hải quan cửa khẩu được tổ chức lại thành Hải quan cửa khẩu, có các Đội trưởng, Phó Đội trưởng Hải quan cửa khẩu.

+ Ngày 25/02/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2025/NĐ- CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Môi trường sau khi cấp có thẩm quyền thực hiện chủ trương hợp nhất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Theo đó, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm là đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường trên cơ sở hợp nhất Cục Lâm nghiệp và Cục Kiểm lâm; Cục Thủy sản và Kiểm ngư là đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường trên cơ sở hợp nhất Cục Thủy sản và Cục Kiểm ngư.

Như vậy, hiện nay, tổ chức và tên gọi của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư có sự thay đổi so với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.

- Yêu cầu khắc phục những hạn chế, bất cập của BLTTHS hiện hành: Mặc dù BLTTHS năm 2015 đã có nhiều tiến bộ, nhưng trong quá trình thực thi, có thể phát sinh những vướng mắc, bất cập trong các quy định, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Thực tiễn thời gian qua, việc quyết định thi hành án tử hình và tổ chức thi hành án tử hình ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, trong đó, có nguyên nhân do BLTTHS chưa có quy định về thời hạn xem xét đơn xin ân giảm án tử hình. Việc sửa đổi nhằm khắc phục những lỗ hổng pháp lý, các quy định chồng chéo, không rõ ràng, hoặc thiếu các cơ chế bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể trong tố tụng.

Với các lý do trên, việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm thực hiện kịp thời, hiệu quả các chủ trương, chỉ đạo cải cách về tổ chức và bộ máy của Đảng, Nhà nước, đáp ứng yêu cầu bức thiết từ thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tổ chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao là hết sức cần thiết. Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025 (Luật số 99/2025/QH15) đã được Quốc hội khóa XV chính thức thông qua vào ngày 27/6/2025 và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025.

II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH CỦA LUẬT

1.     Quan điểm xây dựng Luật

- Nhằm thực hiện kịp thời, hiệu quả các chủ trương, chỉ đạo cải cách về tổ chức và bộ máy của Đảng, Nhà nước, đáp ứng yêu cầu bức thiết từ thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tổ chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

- Khắc phục những hạn chế, bất cập của BLTTHS hiện hành; Giải quyết kịp thời những vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn.

- Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.

2. Mục tiêu chính sách

Xây dựng BLTTHS phải thực sự khoa học, tiến bộ, có tính khả thi cao; là công cụ pháp lý sắc bén để đấu tranh hữu hiệu với mọi loại tội phạm, tháo gỡ vướng mắc, bất cập trong thực tiễn; thực hiện kịp thời, hiệu quả các chủ trương, chỉ đạo cải cách về tổ chức và bộ máy của Đảng, Nhà nước; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được Hiến định; góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN”.

III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

1.   Bố cục của Luật

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Tố tụng hình sự số 99/2025/QH15 gồm 2 điều, cụ thể như sau:

- Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Điều 2. Hiệu lực thi hành.

2. Nội dung cơ bản của Luật

2.1. Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự

Điều 1 gồm 70 khoản sửa đổi, bổ sung các điều, khoản sau đây của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15 và Luật số 59/2024/QH15, cụ thể như sau:

-  Khoản 1: Bổ sung, bãi bỏ một số điểm của khoản 1 và khoản 2 Điều 4: Bổ sung điểm p vào sau điểm o khoản 1; Bổ sung điểm k vào sau điểm i khoản 2; Bãi bỏ các điểm a, d và g khoản 2;

-  Khoản 2: Sửa đổi, bổ sung Điều 20;

-  Khoản 3: Sửa đổi, bổ sung các điểm a, b, c, d, đ và e khoản 2 Điều 35;

-  Khoản 4: Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 36;

-  Khoản 5: Bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 Điều 37;

-  Khoản 6: Sửa đổi, bổ sung khoản 4 và bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 41;

-  Khoản 7: Bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 Điều 42;

-  Khoản 8: Sửa đổi, bổ sung khoản 4 và bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 44;

-  Khoản 9: Bổ sung khoản 2a vào sau khoản 2 Điều 45;

-  Khoản 10: Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 75;

-  Khoản 11: Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 110;

-  Khoản 12: Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 113;

-  Khoản 13: Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 131;

-  Khoản 14: Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 132;

-  Khoản 15: Sửa tên Điều và bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 135;

-  Khoản 16: Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 137;

-  Khoản 17: Sửa đổi, bổ sung Điều 141;

-  Khoản 18: Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 149;

-  Khoản 19: Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 150;

-  Khoản 20: Sửa đổi, bổ sung điểm a và điểm b khoản 5 Điều 163;

-  Khoản 21: Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 171;

-  Khoản 22: Sửa đổi, bổ sung các điểm a, b và c khoản 5 Điều 172;

-  Khoản 23: Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 Điều 173;

-  Khoản 24: Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 193;

-  Khoản 25: Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 208;

-  Khoản 26: Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 225;

-  Khoản 27: Sửa đổi, bổ sung Điều 233;

-  Khoản 28: Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 239;

-  Khoản 29: Sửa đổi, bổ sung Điều 243;

-  Khoản 30: Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 262;

-  Khoản 31: Sửa đổi, bổ sung Điều 268;

-  Khoản 32: Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 269;

-  Khoản 33: Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 290;

-  Khoản 34: Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 344;

-  Khoản 35: Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 346;

-  Khoản 36: Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 347;

-  Khoản 37: Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 352;

-  Khoản 38: Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 367;

-  Khoản 39: Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 372;

-  Khoản 40: Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 373;

-  Khoản 41: Sửa đổi, bổ sung Điều 382;

-  Khoản 42: Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 400;

-  Khoản 43: Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 474;

-  Khoản 44: Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 475;

-  Khoản 45: Sửa đổi, bổ sung Điều 476;

-  Khoản 46: Sửa đổi, bổ sung Điều 477;

-  Khoản 47: Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 481;

-  Khoản 48: Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 483;

-  Khoản 49: Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 485;

-  Khoản 50: Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 487;

-  Khoản 51: Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 501;

-  Khoản 52: Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 502;

-  Khoản 53: Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 503;

-  Khoản 54: Bổ sung Điều 506a vào sau Điều 506;

-  Khoản 55: Bổ sung cụm từ “, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam” vào sau cụm từ “Trưởng Nhà tạm giữ” tại khoản 2 Điều 134, khoản 1 Điều 332 và khoản 3 Điều 333; bổ sung cụm từ “hoặc có đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi” vào sau cụm từ “đã khỏi bệnh” tại khoản 2 Điều 454;

-  Khoản 56: Thay thế cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn” bằng cụm từ “Công an cấp xã” tại khoản 3 Điều 111, khoản 3 Điều 112 và khoản 3 Điều 146;

-  Khoản 57: Thay thế cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” tại khoản 2 Điều 114, khoản 5 Điều 119, khoản 4 Điều 121, khoản 3 Điều 122, khoản 2 Điều 124, khoản 2 và khoản 4 Điều 128, khoản 2 và khoản 4 Điều 129, khoản 3 Điều 152, khoản 1 Điều 169, khoản 3 Điều 170, khoản 3 Điều 179, khoản 3 Điều 180, khoản 1 Điều 189, khoản 1 Điều 190, khoản 1 Điều 191, khoản 3 Điều 193, khoản 1 và khoản 2 Điều 197, khoản 2 Điều 198, khoản 2 Điều 201, khoản 1 Điều 202, khoản 2 Điều 204, khoản 3 Điều 229, khoản 2 và khoản 3 Điều 231, khoản 4 Điều 232, Điều 235, Điều 439, khoản 1 Điều 449 và khoản 2 Điều 457;

-  Khoản 58: Thay thế cụm từ “Viện kiểm sát nhân dân cấp cao” bằng cụm từ “Viện kiểm sát nhân dân tối cao” tại khoản 1 Điều 341;

-  Khoản 59: Thay thế cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” tại khoản 2 Điều 113, Điều 116, khoản 6 Điều 119, khoản 1 Điều 120, khoản 2 Điều 121, khoản 5 và khoản 6 Điều 123, khoản 4 Điều 128, khoản 2 và khoản 3 Điều 138, khoản 2 Điều 182, điểm a khoản 3 Điều 185, các khoản 1, 2 và 3 Điều 195, khoản 1 Điều 198, khoản 4 Điều 202, khoản 1 Điều 262, khoản 8 Điều 368, khoản 2 Điều 369, khoản 2 Điều 395, điểm b khoản 3 Điều 437 và khoản 2 Điều 440;

-  Khoản 60: Thay thế cụm từ “chính quyền địa phương” bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân” tại điểm c khoản 1 Điều 90;

-  Khoản 61: Thay thế cụm từ “Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn” bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” tại khoản 2 Điều 140, khoản 1 Điều 262, khoản 1 Điều 286;

-  Khoản 62: Thay thế cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” tại khoản 1 và khoản 2 Điều 275; thay thế cụm từ “Tòa án nhân dân cấp tỉnh” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” tại khoản 1 và khoản 2 Điều 452;

-  Khoản 63: Thay thế cụm từ “khỏi bệnh” bằng cụm từ “có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi” tại khoản 1 Điều 290, khoản 2 Điều 452; thay thế cụm từ “cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần” bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” tại khoản 1 và khoản 2 Điều 454; thay thế cụm từ “cơ sở bắt buộc chữa bệnh” bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” tại khoản 3 Điều 454;

-  Khoản 64: Thay thế cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện” bằng cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh” tại khoản 3 Điều 364, các khoản 8, 9 và 10 Điều 368;

-  Khoản 65: Thay thế cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” tại khoản 1 và khoản 3 Điều 404, khoản 1 và khoản 2 Điều 405, Điều 406, các khoản 2, 3 và 5 Điều 407, Điều 408, điểm a khoản 2 Điều 411 và Điều 412;

-  Khoản 66: Thay thế cụm từ “cấp cao” bằng cụm từ “cấp tỉnh” tại khoản 2 và khoản 3 Điều 380;

-  Khoản 67: Thay thế cụm từ “Cơ quan điều tra cùng cấp” bằng cụm từ “Cơ quan điều tra có thẩm quyền” tại khoản 1 Điều 262;

-  Khoản 68: Thay thế cụm từ “thành phố trực thuộc Trung ương” bằng cụm từ “thành phố” tại các điểm b, đ và h khoản 2 Điều 4, điểm c khoản 5 Điều 163, khoản 2 Điều 169, khoản 1 Điều 274, khoản 1 và khoản 2 Điều 275;

-  Khoản 69: Bỏ cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” tại khoản 4 Điều 117, khoản 2 Điều 118, khoản 5 Điều 146, đoạn 2 khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 149, khoản 2 Điều 156 và khoản 1 Điều 158;

-  Khoản 70: Bỏ cụm từ “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” tại đoạn 1 khoản 2 Điều 147 và khoản 4 Điều 481.

2.2. Điều 2. Hiệu lực thi hành

Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025.

2.3. Những điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự 2025

Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự, số 99/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2025. Dưới đây là tổng hợp 07 điểm mới quan trọng cần được lưu ý trong quá trình giải quyết vụ án hình sự:

1. Mở rộng thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

2. Thay đổi thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực

3. Hướng dẫn giải quyết trong trường hợp bị can, bị cáo vắng mặt

4. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tố tụng

5. ​Bổ sung quy định về giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ

6. Bổ sung quy định về chi phí tố tụng và việc miễn, giảm chi phí tố tụng

7. Bổ sung hướng dẫn về thủ tục xem xét bản án tử hình trước thi hành

2.3.1. Mở rộng thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2025 (Luật sửa đổi BLTTHS năm 2025) đã sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021 (BLTTHS năm 2015) về một số lực lượng được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Cụ thể:

- Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng

- Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực,

- Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm vùng

- Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát

- Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư

Đáng chú ý, Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã nay được được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã theo quy định tại khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi BLTTHS năm 2025. Nội dung này không được quy định tại khoản 1 Điều 37 BLTTHS năm 2015.

Trước đó, Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều 37, các điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 36 BLTTHS năm 2015, trừ quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.

2.3.2. Thay đổi thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực

Khoản 31 Điều 1 Luật sửa đổi BLTTHS năm 2025 đã sửa đổi, bổ sung thẩm quyền xét xử của Tòa án theo Điều 268 BLTTHS năm 2015 như sau:

(1) Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đến 20 năm tù.

Trước đây, theo khoản 1 Điều 268 BLTTHS năm 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự đối với các loại tội phạm trên là quy định đến 15 năm tù.

(2) Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự có khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định là chung thân, tử hình; vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; vụ án mà khi xử lý có ảnh hưởng đến chính trị, đối ngoại; vụ án mà người phạm tội là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc thiểu số.

Như vậy, Tòa án nhân dân cấp tỉnh tập trung vào các vụ án phức tạp hơn, có yếu tố chính trị, đối ngoại, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm và nâng cấp độ cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Đồng thời, loại bỏ yếu tố nước ngoài khỏi thẩm quyền mặc nhiên của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo điểm a khoản 2 Điều 268 BLTTHS năm 2015.

2.3.3. Hướng dẫn giải quyết trong trường hợp bị can, bị cáo vắng mặt

Theo quy định tại khoản 27, 29, 33 Điều 1 Luật sửa đổi BLTTHS năm 2025, Cơ quan điều tra vẫn tiến hành kết luận điều tra trong trường hợp đề nghị truy tố, Viện kiểm sát vẫn tiến hành quyết định truy tố bị can và Tòa án vẫn tiến hành xét xử trong các trường hợp:

- Bị can, Bị cáo trốn hoặc không biết ở đâu và việc truy nã không có kết quả;

- Bị can, Bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập về để tham gia các hoạt động tố tụng.

Kết luận điều tra đề nghị truy tố, Quyết định truy tố đối với bị can được niêm yết nếu không thể giao được cho bị can theo quy định pháp luật.

Trước đó, BLTTHS năm 2015 không quy định nội dung nêu trên.

2.3.4. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tố tụng

Luật sửa đổi BLTTHS năm 2025 đã quy định về việc lập hồ sơ tố tụng bằng văn bản giấy hoặc số hóa theo khoản 13 Điều 1. Đồng thời, theo khoản 14 Điều 1 Luật sửa đổi BLTTHS năm 2025 cũng quy định chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng là chữ ký trực tiếp hoặc chữ ký số.

Trước đây, nội dung này không được quy định tại Điều 131, Điều 132 BLTTHS năm 2015.

Bên cạnh đó, Luật sửa đổi BLTTHS năm 2025 cũng bổ sung quy định về việc thông báo tố tụng qua nền tảng số và các ứng dụng dùng chung tại Trung tâm dữ liệu quốc gia. Cụ thể:

Khoản 16 Điều 1 Luật sửa đổi BLTTHS năm 2025 sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 137 về việc cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng:

“Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số, phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng”.

Khoản 17 Điều 1 Luật sửa đổi BLTTHS năm 2025 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 141 về thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số, phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng:

"Việc thông báo văn bản tố tụng trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số, phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện khi việc niêm yết công khai không có kết quả hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật".

2.3.5. ​Bổ sung quy định về giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ

Theo khoản 54 Điều 1 Luật sửa đổi BLTTHS năm 2025, việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và pháp luật về dẫn độ.

Trước đây, BLTTHS năm 2015 không quy định về nội dung này.

2.3.6. Bổ sung quy định về chi phí tố tụng và việc miễn, giảm chi phí tố tụng

Khoản 15 Điều 1 Luật sửa đổi BLTTHS năm 2025 sửa đổi bổ sung Điều 135 BLTTHS năm 2015 về chi phí trong tố tụng hình sự, cụ thể:

“5. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về chi phí tố tụng và việc miễn, giảm chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.”

Trước đây, Điều 135 BLTTHS năm 2015 không quy định nội dung này.

2.3.7. Bổ sung hướng dẫn về thủ tục xem xét bản án tử hình trước thi hành

Tại điểm a khoản 38 Điều 1 Luật sửa đổi BLTTHS năm 2025 quy định:

- Trường hợp người bị kết án có đơn xin ân giảm gửi Chủ tịch nước thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có ý kiến trình Chủ tịch nước về việc xét đơn xin ân giảm.

- Trường hợp Chủ tịch nước quyết định ân giảm thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án.

- Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày nhận được ý kiến của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao mà Chủ tịch nước không có quyết định ân giảm thì cơ quan có thẩm quyền thông báo ngay về việc không có quyết định ân giảm của Chủ tịch nước để Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm tổ chức việc thi hành bản án tử hình theo quy định.

So với trước đây, Điều 367 BLTTHS năm 2015 chỉ quy định trường hợp người bị kết án có đơn xin ân giảm hình phạt tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm.

IV. CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM THỰC HIỆN

Nhà nước cần bố trí một khoản kinh phí cho việc tổ chức thực hiện: tuyên truyền, phổ biến, quán triệt nội dung của Luật. Việc triển khai thi hành Luật không đòi hỏi phải hình thành thêm bộ máy./.

Lượt xem: 8