Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
TÀI LIỆU GIỚI THIỆU
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 208/2025/QH15 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NỘI QUY KỲ HỌP QUỐC HỘI BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 71/2022/QH15
I. SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NỘI QUY KỲ HỌP QUỐC HỘI
Ngày 25/6/2025 tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XV thông qua Nghị quyết số 208/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nội quy kỳ họp Quốc hội ban hành kèm theo Nghị quyết số 71/2022/QH15 của Quốc hội. Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nội quy kỳ họp Quốc hội năm 2022 là cần thiết nhằm hoàn thiện thể chế, góp phần thực hiện cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tiếp tục thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng để bảo đảm phù hợp, thống nhất với các luật, nghị quyết của Quốc hội mới được ban hành, bảo đảm đồng bộ để triển khai hiệu quả, thông suốt hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan có liên quan sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới; việc sửa đổi nhằm đáp ứng các yêu cầu sau:
1. Sửa đổi, bổ sung các quy định để phù hợp với Luật số 62/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội và các luật, nghị quyết có liên quan về tổ chức bộ máy.
2. Sửa đổi, bổ sung các quy định để bảo đảm sự phù hợp và tương thích với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15.
3. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung khác để bảo đảm thực hiện đồng bộ, hiệu quả chỉ đạo của cấp có thẩm quyền về đổi mới tư duy trong công tác xây dựng pháp luật, phát huy tính năng động, sáng tạo, tích cực, trách nhiệm của các chủ thể trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là của Chính phủ trong quy trình lập pháp, lập quy. Chính phủ và các cơ quan trình dự án luật chịu trách nhiệm đến cùng đối với dự án luật do cơ quan mình trình; Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, đồng bộ, kịp thời trong xây dựng chính sách, pháp luật giữa Quốc hội và Chính phủ, giữa các bộ, ngành và giữa Trung ương với địa phương; gắn với phát huy trách nhiệm của các cơ quan trong từng khâu của quy trình.
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT
1. Sửa đối, bổ sung Điều 1 như sau:
“Điều 1. Kỳ họp Quốc hội
1. Kỳ họp Quốc hội là hình thức hoạt động chủ yếu của Quốc hội. Tại kỳ họp, Quốc hội thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Kỳ họp Quốc hội có thể được tổ chức liên tục hoặc theo nhiều đợt. Trong thời gian giữa các đợt của kỳ họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội thực hiện các công việc thuộc nội dung kỳ họp.
2. Quốc hội họp thường lệ mỗi năm hai kỳ.
Kỳ họp không thường lệ của Quốc hội được tổ chức khi có yêu cầu của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội để kịp thời xem xét, quyết định các vấn đề cấp bách thuộc thẩm quyền của Quốc hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 3 như sau:
“1. Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên họp Quốc hội, tập trung nghiên cứu, tham gia thảo luận, góp ý kiến vào các nội dung của kỳ họp Quốc hội và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội; chủ động ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo để thực hiện hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội, các hoạt động tại kỳ họp Quốc hội và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác của đại biểu Quốc hội theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội.
2. Trường hợp không thể tham dự kỳ họp, phiên họp Quốc hội theo chương trình kỳ họp đã được Quốc hội thông qua, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội để thông báo đến Văn phòng Quốc hội tổng hợp báo cáo Chủ tịch Quốc hội; nếu không thể tham dự kỳ họp Quốc hội hoặc vắng mặt tổng số trên 02 ngày làm việc trong cả kỳ họp Quốc hội thì phải được Chủ tịch Quốc hội đồng ý, trừ trường hợp vắng mặt vì lý do sức khỏe, lý do bất khả kháng hoặc vắng mặt để thực hiện nhiệm vụ của kỳ họp Quốc hội theo quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội.
Danh sách đại biểu Quốc hội không thể tham dự kỳ họp Quốc hội, vắng mặt tại phiên họp Quốc hội được ghi vào biên bản phiên họp, biên bản kỳ họp Quốc hội, trừ trường hợp vắng mặt để thực hiện nhiệm vụ của kỳ họp Quốc hội theo quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội”.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 11 như sau:
“1. Kỳ họp thường lệ giữa năm của Quốc hội khai mạc vào ngày 20 tháng 5; kỳ họp thường lệ cuối năm của Quốc hội khai mạc vào ngày 20 tháng 10. Trường hợp ngày 20 tháng 5 và ngày 20 tháng 10 trùng vào ngày thứ Sáu của tuần hoặc ngày nghỉ theo quy định của pháp luật thì ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội là ngày làm việc kế tiếp. Trường hợp bất khả kháng không thể tổ chức kỳ họp Quốc hội vào các thời điểm nêu trên hoặc trường hợp thật cần thiết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn thì ngày khai mạc kỳ họp thường lệ của Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định.
Ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa trước quyết định theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội.
Ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội cuối nhiệm kỳ và kỳ họp không thường lệ của Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định”.
4. Sửa dổi, bổ sung Điều 27, bổ sung quy định về gửi Báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận tại Đoàn đại biểu Quốc hội, Tổ đại biểu Quốc hội về từng nội dung của kỳ họp Quốc hội cho đại biểu Quốc hội, cơ quan trình và cơ quan chủ trì thẩm tra: “Báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận tại Đoàn đại biểu Quốc hội, Tổ đại biểu Quốc hội về từng nội dung của kỳ họp Quốc hội được gửi đến đại biểu Quốc hội, cơ quan trình và cơ quan chủ trì thẩm tra chậm nhất là 02 ngày đối với kỳ họp thường lệ và 24 giờ đối với kỳ họp không thường lệ trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể của Quốc hội về nội dung đó. Báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận của đại biểu Quốc hội tại phiên họp toàn thể của Quốc hội phải được gửi đến đại biểu Quốc hội, cơ quan trình và cơ quan chủ trì thẩm tra chậm nhất là 03 ngày đối với kỳ họp thường lệ và 02 ngày đối với kỳ họp không thường lệ kể từ khi kết thúc phiên thảo luận về nội dung đó”.
5. Bổ sung Điều 31a quy định về trình tự Quốc hội xem xét, quyết định cơ cấu tổ chức các cơ quan của Quốc hội, cụ thể như sau:
“Điều 31a. Quyết định cơ cấu tổ chức các cơ quan của Quốc hội
1. Hồ sơ trình Quốc hội quyết định cơ cấu tổ chức các cơ quan của Quốc hội bao gồm:
a) Tờ trình về cơ cấu tổ chức các cơ quan của Quốc hội;
b) Dự thảo nghị quyết;
c) Tài liệu khác (nếu có).
2. Quốc hội quyết định cơ cấu tổ chức các cơ quan của Quốc hội theo trình tự sau đây:
a) Đại diện Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình bày tờ trình;
b) Đại biểu Quốc hội thảo luận tại Đoàn đại biểu Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội có thể họp với các Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội để trao đổi về các vấn đề có liên quan;
c) Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội thảo luận tại Đoàn đại biểu Quốc hội;
d) Quốc hội thảo luận;
đ) Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội và chỉnh lý dự thảo nghị quyết;
e) Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết.
3. Trường hợp cơ cấu tổ chức các cơ quan của Quốc hội được xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa mới, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa trước trình Quốc hội xem xét, quyết định theo trình tự quy định tại khoản 2 Điều này”.
5. Bổ sung khoản 3 vào Điều 34 quy định về việc quyết định cơ cấu tổ chức của Chính phủ tại các kỳ họp sau Kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Quốc hội trong trường hợp cần thiết để bảo đảm phù hợp với Luật Tổ chức Chính phủ và bao quát đầy đủ các trường hợp như đã thực hiện trên thực tế:
“3. Tại các kỳ họp sau kỳ họp thứ nhất, trong trường hợp cần thiết, Quốc hội quyết định điều chỉnh cơ cấu tổ chức của Chính phủ trên cơ sở đề nghị của Chính phủ theo trình tự quy định tại khoản 2 Điều này”.
6. Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 48 về quyết định thành lập, bãi bỏ cơ quan; quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Trong đó quy định cơ quan trình Đề án chủ trì tiếp tiếp thu, giải trình ý kiến của các đại biểu Quốc hội (quy định cũ là Ủy ban Thường vụ Quốc hội), cụ thể như sau:
- Đối với việc thành lập, bãi bỏ Bộ, cơ quan ngang Bộ; thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính tỉnh, thành phố, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt:
“đ) Chính phủ chỉ đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo nghị quyết và xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo nghị quyết, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến; Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội ý kiến về nội dung cơ quan trình dự kiến tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo nghị quyết.
Chính phủ chỉ đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo nghị quyết theo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
e) Chính phủ báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội và chỉnh lý dự thảo nghị quyết”.
- Đối với việc thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật:
“đ) Cơ quan trình chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo nghị quyết và xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo nghị quyết, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến; Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội ý kiến về nội dung cơ quan trình dự kiến tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo nghị quyết.
Cơ quan trình chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo nghị quyết theo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
e) Cơ quan trình báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội và chỉnh lý dự thảo nghị quyết”.
7. Để phát huy tính chủ động và trách nhiệm giải trình của cơ quan trình đối với các nội dung trình Quốc hội xem xét, quyết định về kinh tế - xã hội, đồng thời, bảo đảm sự tương đồng với những đổi mới trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về trách nhiệm của cơ quan trình và trình tự thông qua dự án luật, nghị quyết, sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 50 của Nội quy kỳ họp Quốc hội theo hướng quy định: cơ quan trình chịu trách nhiệm chủ trì tổ chức nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý và báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý đối với các nội dung về kinh tế - xã hội; các nội dung này được xem xét, thông qua tại 1 kỳ họp; trường hợp dự thảo nghị quyết chưa được Quốc hội thông qua thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định lùi thời điểm thông qua để tiếp tục hoàn thiện, trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tiếp theo hoặc trình lại. Tại khoản 6 Điều 50 quy định:
“6. Việc nghiên cứu tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo nghị quyết được thực hiện theo trình tự sau đây:
a) Chính phủ chỉ đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo nghị quyết và xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo nghị quyết, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến; Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội ý kiến về nội dung cơ quan trình dự kiến tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo nghị quyết;
b) Chính phủ chỉ đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo nghị quyết theo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Trường hợp Chính phủ có ý kiến khác với ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc có nội dung quan trọng, phức tạp cần có thêm thời gian để nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình hoặc trên cơ sở đề xuất của Chính phủ báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định cho lùi thời điểm trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tiếp theo hoặc trình lại;
c) Chính phủ báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo nghị quyết”.
9. Bên cạnh đó, Nghị quyết sửa đổi, bổ sung các quy định để phù hợp với Luật số 62/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội và các luật, nghị quyết của Quốc hội về tổ chức bộ máy như sửa đổi các quy định về: Tên các cơ quan của Quốc hội: Sửa đổi quy định về kỳ họp bất thường thành kỳ họp không thường lệ; Sửa đổi quy định liên quan đến Tổng Thư ký Quốc hội, Ban Thư ký và việc triển khai các nghiệp vụ thư ký tại kỳ họp Quốc hội.
Lượt xem: 7