Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
ĐỀ CƯƠNG
Tuyên truyền Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả số 77/2025/QH15
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH VĂN BẢN
1. Cơ sở thực tiễn
Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (Luật SDNL TK&HQ - Luật số 50/2010/QH12) được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011.
Việc ban hành Luật đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật về SDNL TK&HQ ở nước ta. Luật đã cơ bản thể chế hóa chủ trương, đường lối quan điểm nhất quán của Đảng, và Nhà nước, xác định SDNL TK&HQ là chính sách được ưu tiên hàng đầu, giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế gắn với an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
Luật đã tạo dựng hành lang pháp lý, tháo gỡ rào cản, cụ thể hóa các quy định về biện pháp quản lý, kỹ thuật và chính sách thúc đẩy SDNL TK&HQ trong toàn bộ hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng dân dụng, chiếu sáng và sinh hoạt của cộng đồng, tạo điều kiện triển khai đồng bộ hoạt động sử dụng năng lượng TK&HQ bền vững của đất nước.
Tuy nhiên, sau 15 năm triển khai thi hành, đến nay đã bộc lộ bất cập cần phải rà soát để sửa đổi, bổ sung một số nội dung được quy định tại Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và các luật liên quan để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong thực tiễn hoạt động sử dụng năng lượng trong các ngành công nghiệp sản xuất, chế biến các sản phẩm công nghiệp để ứng phó với các thách thức mới như: Các thách thức về biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường diễn biến phức tạp và các mục tiêu phát triển bền vững (SDG) có nguy cơ không đạt được đúng hạn vào năm 2030, xu hướng tăng cường kiểm soát phát thải khí nhà kính diễn ra trên toàn cầu đang gia tăng, có thể thấy các chính sách về môi trường của các thị trường Châu Âu, Mỹ…; việc huy động các nguồn lực cho chuyển đổi công nghiệp xanh, bền vững, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn năng lượng, tài nguyên tại Việt Nam còn thiếu và yếu không đáp ứng yêu cầu của thị trường; cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số dựa trên nền tảng công nghệ dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ Điện toán đám mây (Icloud) hay công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đang tác động một cách toàn diện lên quá trình quản lý sản xuất, thay đổi mô hình kinh doanh đem lại tiềm năng lớn trong việc sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, nguyên vật liệu trong sản xuất và kinh doanh. Luật SDNLTK&HQ sửa đổi cũng cần thiết phải tạo ra hành lang để thúc đẩy các quá trình chuyển đổi phù hợp với trình độ công nghệ mới; các giải pháp về tiết kiệm năng lượng cũng là một trong những đòi hỏi để góp phần thực hiện Quy hoạch điện VIII (Quyết định 500/QĐ-TTg ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050).
Việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả hiện hành là hết sức cần thiết, nhằm tiếp tục quán triệt, thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước giải quyết được các vấn đề của thực tiễn trong nước đặt ra, phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế, đồng thời tăng cường hiệu quả, hiệu lực trong quản lý nhà nước, loại bỏ vướng mắc, rào cản, tạo hành lang pháp lý thuận lợi, tăng cường các cơ chế khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Bên cạnh đó việc sửa đổi, bổ sung Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả sẽ giúp Việt Nam kịp thời tận dụng, thu hút và huy động được các nguồn lực quốc tế để hỗ trợ, thúc đẩy quá trình đầu tư tiết kiệm năng lượng, chuyển đổi thị trường các sản phẩm tiết kiệm năng lượng.
2. Cơ sở chính trị, pháp lý
- Chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 240/NQ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2024 về phiên họp chuyên đề pháp luật tháng 11 năm 2024 định hướng ưu tiên trong xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
- Nghị quyết số 140/NQ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11 tháng 02 năm 2020 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó giao Bộ Công Thương và các bộ, ngành.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ từ ngân sách đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh sử dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường. Cơ chế sản xuất công nghiệp phát thải thấp và gắn sản xuất công nghiệp với cơ chế nền kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực công thương để phế thải, phế phẩm và chất thải của sản phẩm này là đầu vào của sản phẩm khác.
- Kết luận số 19-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 14 tháng 10 năm 2021 về định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.
- Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 05 tháng 11 năm 2021 về triển khai thực hiện Kết luận số 19-KL/TW về định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.
- Nghị quyết số 937/NQ-UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2023 giám sát chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển năng lượng giai đoạn 2016-2021.
- Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 với mục tiêu chủ yếu liên quan đến sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu.
- Nghị quyết số 65/2025/UBTVQH15 ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025, trong đó bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025 để trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp thứ 9 (tháng 5/2025) theo quy trình tại một kỳ họp.
- Việc sửa đổi, bổ sung Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cũng phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về “… tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước” (Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII); “Tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc, khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước” (Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới).
II. MỤC ĐÍCH BAN HÀNH VÀ QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG DỰ ÁN Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Sử dụng Năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
1. Mục đích ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
- Nâng cao tính thực tiễn, khả thi của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống luật pháp trong các hoạt động sử dụng năng lượng, phù hợp với các cam kết quốc tế.
- Tăng cường khuyến khích, tạo điều kiện để cộng đồng dân cư, hộ gia đình, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội của đất nước vì mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.
- Chủ động, tích cực thực hiện các cam kết khi tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 26 (COP26).
- Hoàn thiện các quy định quản lý hoạt động về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp, công trình xây dựng và cơ sở vận tải trọng điểm.
- Ưu tiên đầu tư phát triển các ngành công nghiệp có hiệu suất sử dụng năng lượng cao, tiết kiệm năng lượng phục vụ mục tiêu sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
- Tăng cường các cơ chế ưu đãi, công cụ hỗ trợ tài chính về thuế, đất đai, lãi vay, cơ chế bảo lãnh vay vốn cho doanh nghiệp đầu tư các dự án về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
- Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân phát triển kinh doanh vận tải khách công cộng, tổ chức vận tải đa phương thức nhằm giảm mức tiêu thụ năng lượng, góp phần bảo vệ môi trường.
- Tăng cường khuyến khích phát triển các dịch vụ tư vấn (mạng lưới các trung tâm tư vấn tiết kiệm năng lượng, các công ty dịch vụ năng lượng) nhằm thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân.
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
- Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và tư nhân trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
2. Quan điểm xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
- Thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước đối với các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
- Góp phần quan trọng trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế gắn với an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ; địa phương, doanh nghiệp...
- Khuyến khích phát triển những ngành nghề tiêu thụ ít năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, tạo ra giá trị gia tăng cao. Có chính sách kiểm soát đối với những ngành có cường độ sử dụng năng lượng cao, tiêu thụ nhiều tài nguyên thiên nhiên.
- Kế thừa và phát triển các quy định của pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả hiện hành, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong hoạt động này.
Các nội dung trong Dự thảo Luật đảm bảo phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về “… tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước” (Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII); “Tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc, khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước” (Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới).
Các nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung dựa trên các quy định đã có trong Luật hiện hành, đảm bảo tuân thủ đúng và đầy đủ: (i) Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật; (ii) Nghị quyết số 110/2023/QH15 ngày 29/11/2023 của Quốc hội về kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XV (yêu cầu: “ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, “lợi ích cục bộ” trong công tác xây dựng... pháp luật” - Mục 3); (iii) Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 14/8/2023 của Chính phủ về một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật nhằm ngăn ngừa tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ.
III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ HIỆU QUẢ
Dự thảo Luật được bám sát theo 04 chính sách đã được Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và không bổ sung, thay đổi các chính sách mới.
1. Bố cục
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả dự kiến gồm 2 Điều:
- Điều 1: Về các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả gồm 21 khoản liên quan đến các nội dung cần sửa đổi, bổ sung của 21 Điều của Luật hiện hành, gồm:
+ Điều 3. Giải thích từ ngữ
+ Điều 5. Chính sách của Nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
+ Điều 6. Chiến lược, quy hoạch, chương trình sử dụng năng lượng
+ Điều 7. Thống kê về sử dụng năng lượng
+ Điều 13. Biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong cơ sở sản xuất, cung cấp năng lượng
+ Điều 16. Trách nhiệm quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong hoạt động xây dựng
+ Điều 18. Trách nhiệm quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong hoạt động xây dựng
+ Điều 21. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu thiết bị, phương tiện vận tải
+ Điều 25. Trách nhiệm quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp
+ Điều 30. Biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước
+ Điều 32. Cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm
+ Điều 33. Trách nhiệm của cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm
+ Điều 34. Kiểm toán năng lượng đối với cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm
+ Điều 35. Điều kiện, nhiệm vụ của người quản lý năng lượng tại cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm
+ Chương IX. Đổi tên Chương
+ Điều 37. Biện pháp quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với phương tiện, thiết bị
+ Điều 39. Dán nhãn năng lượng
+ Điều 41. Ưu đãi đối với hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
+ Điều 43. Tuyên truyền, giáo dục, phát triển dịch vụ tư vấn sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
+ Điều 46. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
- Điều 2: Về hiệu lực thi hành.
- Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp.
2. Nội dung sửa đổi
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, Quốc hội khoá XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Luật sửa đổi, bổ sung này có nhiều nội dung mới, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý mới, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế gắn với an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả có nhiều thay đổi quan trọng, nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng về năng lượng, và khắc phục một số vướng mắc, bất cập của Luật hiện hành, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp với bối cảnh trong nước, thế giới hiện nay và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
Đồng thời, Luật cũng góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo hành lang pháp lý thuận lợi, khuyến khích, thúc đẩy các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; tận dụng, thu hút được các nguồn lực trong và ngoài nước để hỗ trợ, thúc đẩy quá trình đầu tư tiết kiệm năng lượng, chuyển đổi thị trường các sản phẩm tiết kiệm năng lượng.
(1) Dự thảo Luật đã bổ sung các khái niệm mới (Điều 3) như:
Bổ sung khái niệm “Mức hiệu suất năng lượng cao” là mức hiệu suất do cơ quan quản lý nhà nước quy định để khuyến khích áp dụng theo từng thời kỳ.
Sửa đổi định nghĩa “Sản phẩm tiết kiệm năng lượng” để mở rộng: bao gồm phương tiện, thiết bị, sản phẩm có hiệu suất năng lượng cao, vật liệu xây dựng có tính cách nhiệt tốt giúp giảm tiêu thụ năng lượng.
Bổ sung định nghĩa “Tổ chức dịch vụ năng lượng”, “Hợp đồng hiệu quả năng lượng”, “Chứng chỉ quản lý năng lượng”.
(2). Về chính sách phát triển, khuyến khích
Tại Điều 5: bổ sung, sửa đổi để tăng cường đầu tư, sử dụng đa dạng hình thức huy động nguồn lực cho nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ tiên tiến, chuyển đổi xanh; phát triển ngành, nghề tiêu thụ ít năng lượng, tài nguyên.
Khuyến khích, hỗ trợ phát triển dịch vụ năng lượng: tuyên truyền, nâng cao nhận thức, đào tạo chuyên môn (kiểm toán viên năng lượng, người quản lý năng lượng) tại các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm.
Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được xác định là chỉ tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội quốc gia, tỉnh, thành phố và các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm.
(3) Về nguồn lực và thống kê
Bổ sung tại Điều 6: nguồn lực thực hiện sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả bao gồm ngân sách nhà nước, vốn xã hội hóa và các nguồn hợp pháp khác.
Tại Điều 7: việc thống kê trong lĩnh vực năng lượng được thực hiện theo quy định của pháp luật về thống kê.
(4) Về định mức sử dụng năng lượng và quản lý ngành
Điều 9: bổ sung quy định Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành định mức sử dụng năng lượng áp dụng trong từng ngành sản xuất công nghiệp; và Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành định mức sử dụng năng lượng áp dụng trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng.
Điều 37: sửa đổi tên và nội dung thành “Biện pháp quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với phương tiện, thiết bị và vật liệu xây dựng”. Cụ thể: Dán nhãn năng lượng đối với phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng và vật liệu xây dựng; Công bố thông tin cần thiết về sử dụng năng lượng của phương tiện, thiết bị và vật liệu xây dựng.
(5) Dịch vụ năng lượng và đào tạo
Điều 43: sửa đổi tên thành “Tuyên truyền, giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; phát triển dịch vụ năng lượng”.
Bổ sung các hoạt động của tổ chức dịch vụ năng lượng như: kiểm toán năng lượng; chuyển giao công nghệ tiết kiệm năng lượng, công nghệ thân thiện với môi trường; đào tạo kiểm toán viên năng lượng, người quản lý năng lượng; tư vấn, đầu tư thực hiện biện pháp tiết kiệm năng lượng; cung cấp thông tin, quảng bá về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
(6) Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
Bổ sung Điều 41a: thành lập Quỹ Thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả – quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có chức năng hỗ trợ, tài trợ cho các dự án, nhiệm vụ, hoạt động thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên toàn quốc
Thủ tướng Chính phủ quyết định việc thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ theo hướng xã hội hóa, bảo đảm độc lập về tài chính, không trùng với ngân sách nhà nước và hạn chế làm tăng chi phí sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp.
(7) Bổ sung cơ chế quản lý và giám sát địa phương (Điều 46): UBND cấp tỉnh xây dựng kế hoạch 5 năm và báo cáo hằng năm về hiệu quả sử dụng năng lượng gửi Bộ Công Thương.
Tại Điều 2 và Điều 3 quy định về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp đã quy định: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026. Chứng chỉ quản lý năng lượng được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành có giá trị đến hết ngày 31/12/2030./.
Lượt xem: 8