Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
TÀI LIỆU GIỚI THIỆU
LUẬT SỬA ĐỔI BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
I. SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Thực hiện Kết luận số 127-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, trong đó đề ra các nội dung cụ thể như: “xây dựng đề án sáp nhập một số đơn vị hành chỉnh cấp tỉnh, không tố chức cấp huyện, tiếp tục sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã”, “xây dựng đề án về hệ thong tòa án, viện kiếm sát ở địa phương theo định hướng không tổ chức câp huyện ”, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC) nhằm thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng trong bối cảnh hiện nay, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước.
Sau 12 năm triển khai thi hành, Luật XLVPHC đã góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, trước yêu cầu cấp bách của việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, đồng thời đẩy nhanh ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý nhà nước, hệ thống quy định của Luật XLVPHC đã bộc lộ nhiều bất cập, chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn, cụ thế như:
- Về trình tự, thủ tục: Trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính còn rườm rà, phức tạp. Việc lập biên bản, ra quyết định xử phạt và áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn nhiều bước trung gian, kéo dài thời gian xử lý, làm giảm hiệu quả thực thi pháp luật; quy định về thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện để định giá ngắn, chưa phù họp với tình hình thực tiễn; quy định về việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự và chuyển hồ sơ vụ vi phạm đế xử phạt vi phạm hành chính chưa rõ ràng, dẫn đến áp dụng chưa thống nhất trong thực tiễn. Đồng thời, trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, việc ứng dụng các công nghệ hiện đại vào quản lý trở thành một yêu cầu tất yếu.
- Về các quy định về thẩm quyền: Việc sáp nhập, hợp nhất, tổ chức lại các cơ quan, đơn vị trong bộ máy hành chính, sự chuyển giao nhiệm vụ quản lý giữa các bộ, ngành tác động lớn đến các quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, thẩm quyền quyết định cưỡng chế, thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính của các chức danh và các quy định về quy trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, tổ chức thi hành các quyết định trong xử lý vi phạm hành chính.
- Một số quy định cụ thể liên quan đến mức tiền phạt tối đa trong cảc lĩnh vực, thấm quyền phạt tiền,... trong Luật XLVPHC đã trở nên lạc hậu trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Sự gia tăng về thu nhập, giá trị hàng hóa và mức độ vi phạm khiến nhiều quy định về thẩm quyền và mức phạt hiện tại không còn đủ tính răn đe, vụ việc dồn quá nhiều lên cấp trên do giới hạn về thẩm quyền phạt tiền của các chức danh ở cơ sở, gây khó khăn cho công tác xử phạt. Bên cạnh đó, một số quy định về thời hiệu xử phạt chưa bắt kịp với sự phát triển đa dạng, phức tạp của nền kinh tế số, nhiều vụ việc khi phát hiện hoặc chuyến sang cơ quan có thấm quyền xử phạt vi phạm hành chính đã hết thời hiệu xử lý; việc quy định thẩm quyền trong xử lý vi phạm hành chính quá cụ thể, dẫn đến thiếu tính linh hoạt, kìm hãm sự chủ động thích ứng, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước.
- Các quy định về thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính chưa thực sự phù hợp và chưa đáp ứng được với yêu cầu thực tiễn, ví dụ như: Các quy định về hoãn, miễn, giảm tiền phạt,... quá phức tạp, chưa phù hợp với thực tiễn; quy định phải thu giữ, bảo quản giấy phép, chứng chỉ hành nghề hiện nay không còn phù hợp khi nhiều loại giấy phép, chứng chỉ hành nghề chỉ được cấp dưới dạng điện tử;...
Do đó, việc đổi, bổ sung Luật XLVPHC nhằm (i) sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật XLVPHC bị tác động bởi sắp xếp, tổ chức bộ máy, bảo đảm hệ thống các cơ quan, người có thấm quyền hoạt động liên tục, thông suốt, không bị gián đoạn; (iii) kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập cơ bản, mang tính phổ quát trong quá trình triển khai thi hành Luật thời gian qua, từ đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chất lượng hoạt động của lực lượng thực thi công vụ và giúp đơn giản hóa, minh bạch hóa, tạo thuận lợi cho người dân, danh nghiệp trong thực hiện quy trình, thủ tục xử lý vi phạm hành chính, phù họp với bối cảnh phát triến kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay; (iii) hiện đại hóa, tăng cường đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
II. BỐ CỤC CỦA LUẬT
Luật gồm 03 Điều, cụ thể như sau:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC gồm 30 khoản, sửa đổi nội dung 24 điều, bổ sung mới 02 điều, bãi bỏ 16 điều; ngoài ra Luật cũng sửa đổi kỹ thuật một số điều của Luật XLVPHC.
Điều 2. Hiệu lực thi hành, theo đó Luật có hiệu lực thi hành từ 01/7/2025.
Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp: quy định xử lý đối với trường hợp việc vi phạm hành chính đã được phát hiện và đang trong quá trình xem xét, xử lý mà cơ quan, chức danh có thẩm quyền đang xử lý vụ việc kết thúc hoạt động; quy định về xử phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Trưởng Công an cấp huyện.
III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT
1. Sửa đổi về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính (khoản 1 Điều 1)
Theo đó, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau đây: Vi phạm hành chính về kế toán; hóa đơn; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước; khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm. Như vậy, Luật đã bổ sung lĩnh vực khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.
Bên cạnh đó, Luật sửa đổi quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính với vi phạm về thuế, kiểm toán độc lập: “Vi phạm hành chính về thuế, kiểm toán độc lập thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, kiểm toán độc lập”.
Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến thì thời hiệu xử phạt áp dụng theo quy định trên được kéo dài thêm 01 năm. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.
2. Bổ sung Điều 18a về xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử (khoản 2 Điều 1)
Luật bổ sung Điều 18a, cho phép xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử, đây là một bước đột phá quan trọng trong công tác cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước. Việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử được thực hiện khi đảm bảo các điều kiện cần thiết về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật và thông tin. Cụ thể như sau:
“Điều 18a. Xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử
1. Việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử được thực hiện khi bảo đảm điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông tin.
2. Việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Tuân thủ quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về giao dịch điện tử và pháp luật có liên quan;
b) Việc thu thập, lưu trữ, khai thác, sử dụng dữ liệu phải bảo đảm tính toàn vẹn, xác thực, an toàn, đúng mục đích, phạm vi theo quy định của pháp luật;
c) Kết nối hệ thống, chia sẻ dữ liệu, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời phục vụ quản lý nhà nước và giám sát của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
Quy định này yêu cầu việc thu thập, lưu trữ, khai thác, sử dụng dữ liệu phải đảm bảo tính toàn vẹn, xác thực, an toàn và đúng mục đích, phạm vi theo quy định của pháp luật. Đồng thời, phải đảm bảo kết nối hệ thống, chia sẻ dữ liệu, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời phục vụ quản lý nhà nước và giám sát của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, việc áp dụng các quy trình điện tử trong xử lý vi phạm hành chính sẽ mang lại nhiều lợi ích; tăng cường hiệu quả bằng cách tự động hóa các bước thủ tục, giảm thiểu giấy tờ và thời gian xử lý và nâng cao tính minh bạch và khả năng giám sát, bên cạnh đó, việc tích hợp dữ liệu và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan sẽ cải thiện sự phối hợp và đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu chính xác, kịp thời.
3. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 24, trong đó bổ sung mức phạt tối đa đối với một số lĩnh vực (khoản 3 Điều 1)
Khoản 3 Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 24 Luật XLVPHC bổ sung mức phạt tiền tối đa đối với một số lĩnh vực, trong đó mức phạt tối đa 30.000.000 đồng đối với vi phạm trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; mức phạt tối đa đến 100.000.000 đồng đối với vi phạm trong lĩnh vực dữ liệu; công nghiệp công nghệ số; mức phạt tối đa đến 500.000.000 đồng đối với vi phạm trong lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, cụ thể như sau:
- Phạt tiền đến 30.000.000 đồng: hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; bạo lực gia đình; lưu trữ; tín ngưỡng, tôn giáo; thi đua, khen thưởng; hành chính tư pháp; dân số; vệ sinh môi trường; thống kê; đối ngoại; khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
- Phạt tiền đến 100.000.000 đồng: đê điều; khám bệnh, chữa bệnh; mỹ phẩm; dược, trang thiết bị y tế; chăn nuôi; phân bón; quảng cáo; đặt cược và trò chơi có thưởng; quản lý lao động ngoài nước; giao thông hàng hải; hoạt động hàng không dân dụng; quản lý và bảo vệ công trình giao thông; công nghệ thông tin; viễn thông; tần số vô tuyến điện; an ninh mạng; an toàn thông tin mạng; dữ liệu; công nghiệp công nghệ số; xuất bản; in; thương mại; hải quan, thủ tục thuế; kinh doanh xổ số; kinh doanh bảo hiểm; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; quản lý vật liệu nổ; điện lực.
- Phạt tiền đến 500.000.000 đồng: xây dựng; lâm nghiệp; đất đai; quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; kinh doanh bất động sản.
4. Sửa đổi, bổ sung Điều 56, điều chỉnh mức phạt tiền đối với các trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản (khoản 8 Điều 1).
Nâng mức phạt tiền tối đa được áp dụng cho trường hợp xử phạt không lập biên bản. Cụ thể, đối với cá nhân, mức phạt tiền không lập biên bản được nâng từ 250.000 đồng lên đến 500.000 đồng. Đối với tổ chức, mức phạt này tăng từ 500.000 đồng lên đến 1.000.000 đồng. Đồng thời, Luật cũng quy định trong trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản trên thì người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ. Cụ thể:
“Điều 56. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản
1. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng đối với các trường hợp sau:
a) Xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000 đồng đối với cá nhân, 1.000.000 đồng đối với tổ chức;
b) Hành vi vi phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến theo quy định tại khoản 1 Điều 63 của Luật này.
2. Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ, thì phải lập biên bản.
3. Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, thì người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ.”.
5. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 60, tăng thời gian tạm giữ để định giá tang vật vi phạm (khoản 11 Điều 1)
Trường hợp cần phải tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm và thành lập Hội đồng định giá thì thời hạn tạm giữ tối đa 5 ngày làm việc, cụ thể “Thời hạn tạm giữ để xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm giữ. Mọi chi phí liên quan đến việc tạm giữ, định giá và thiệt hại do việc tạm giữ gây ra do cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ chi trả”.
6. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 62 về chuyển vụ việc cho cơ quan tố tụng (khoản 12 Điều 1)
Luật quy định việc chuyển hồ sơ vụ việc liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự được thực hiện ở bất cứ giai đoạn nào nếu xét thấy có dấu hiệu tội phạm, không phải chỉ thực hiện ở giai đoạn xem xét để quyết định xử phạt hành chính như quy định cũ, cụ thể: “trong quá trình xem xét, xử lý vụ vi phạm, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải chuyển hồ sơ liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự”.
7. Sửa đổi, bổ sung Điều 70, tăng thời hạn gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính và bổ sung quy định cho phép gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng phương thức điện tử (khoản 14 Điều 1).
Trong thời hạn 03 ngày làm việc (quy định cũ là 02 ngày) kể từ ngày ra quyết định xử phạt, người đã ra quyết định xử phạt phải gửi quyết định đó cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt và các cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành. Các hình thức gửi quyết định xử phạt bao gồm: (1) Giao trực tiếp cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt; (2) Gửi qua dịch vụ bưu chính bằng hình thức bảo đảm; (3) Gửi bằng phương thức điện tử; (4) Trường hợp không thể thực hiện được các hình thức trên, có thể niêm yết công khai quyết định xử phạt tại nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở của tổ chức bị xử phạt, hoặc gửi quyết định xử phạt đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở của tổ chức bị xử phạt.
8. Sửa đổi, bổ sung Điều 99, Điều 100, Điều 101, 102, quy định về thẩm quyền cho Công an cấp xã trong xử lý hồ sơ vi phạm hành chính với cá nhân (khoản 17, 18, 19, 20 Điều 1)
Từ 01/7/2025, Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính như đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy, hoặc đưa vào các cơ sở giáo dục bắt buộc đối với người vi phạm khác khi đủ điều kiện.
9. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 126 về xử lý tạm giữ tang vật là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu (khoản 26 Điều 1)
Khắc phục những bất cập đối với trường hợp xử lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ là tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu, Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 126 trong đó bổ sung quy định:“Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, sau khi chấm dứt việc tạm giữ theo quy định và không thuộc trường hợp bị áp dụng hình thức xử phạt tịch thu, người ra quyết định tạm giữ trả lại tang vật, phương tiện theo đề nghị của bên nhận bảo đảm là tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ”.
10. bãi bỏ 16 điều và và khoản 2 Điều 71 (khoản 30 Điều 1):
Bãi bỏ các điều 38 (Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân), Điều 39 (Thẩm quyền của Công an nhân dân), Điều 40 (Thẩm quyền của Bộ đội biên phòng), Điều 41 (Thẩm quyền của Cảnh sát biển), Điều 42 (Thẩm quyền của Hải quan), Điều 43 (Thẩm quyền của Kiểm lâm), Điều 43a (Thẩm quyền của Kiểm ngư), Điều 44 (Thẩm quyền của cơ quan Thuế), Điều 45 (Thẩm quyền của Quản lý thị trường), Điều 45a (Thẩm quyền của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia), Điều 46 (Thẩm quyền của Thanh tra), Điều 47 (Thẩm quyền của Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ hàng không, Cảng vụ đường thủy nội địa), Điều 48 (Thẩm quyền của Tòa án nhân dân), Điều 48a (Thẩm quyền của Kiểm toán nhà nước), Điều 49 (Thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự), Điều 51 (Thẩm quyền của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài).
11. Quy định chuyển tiếp (Điều 3)
Nhằm đảm bảo liên tục trong việc phát hiện, xử lý vi phạm hành chính, kể từ ngày Luật có hiệu lực thi hành (01/7/2025) xử lý các trường hợp phát sinh như sau:
“1. Trường hợp vụ việc vi phạm hành chính đã được phát hiện và đang trong quá trình xem xét, xử lý mà cơ quan, chức danh có thẩm quyền đang xử lý vụ việc kết thúc hoạt động, thì cơ quan, chức danh tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ theo địa bàn, lĩnh vực tiếp tục xử lý vụ việc hoặc chuyển đến người có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp vi phạm hành chính đã có quyết định xử phạt, thì việc tổ chức thi hành, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính sẽ do cơ quan, chức danh tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ theo địa bàn, lĩnh vực tiếp tục thực hiện hoặc chuyển đến người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện thẩm quyền trong xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Trưởng Công an cấp xã thực hiện thẩm quyền trong xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng Công an cấp huyện theo nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước cho đến khi có quy định của Chính phủ thay thế hoặc nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành”.
Lượt xem: 9