Đăng ký nhận tin
Chủ Nhật, ngày 05/4/2026

Nghị quyết số 203/2025/QH15 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

TÀI LIỆU GIỚI THIỆU

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 203/2025/QH15 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

I. SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG HIẾN PHÁP NĂM 2013

Hiến pháp là đạo luật gốc, có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật của một quốc gia. Tại Việt Nam, Hiến pháp không chỉ là văn kiện pháp lý tối cao mà còn là tuyên bố chính trị thể hiện sâu sắc bản chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và quyền làm chủ của Nhân dân. Hiến pháp năm 2013, với 11 chương và 120 điều, đã và đang là nền tảng chính trị, pháp lý vững chắc cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

Sau hơn một thập kỷ thi hành Hiến pháp 2013, yêu cầu đổi mới mô hình quản trị quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả đã trở nên cấp thiết. Đáp ứng yêu cầu này, Quốc hội đã tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung một số điều quan trọng của Hiến pháp. Những sửa đổi này không chỉ mang tính kỹ thuật lập pháp mà còn là sự kết tinh của lý luận chính trị - pháp lý hiện đại và thực tiễn quản trị quốc gia sâu sắc, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại, dân chủ và phát triển. Nhu cầu sửa đổi Hiến pháp 2013 bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới mô hình quản trị quốc gia và sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước nhằm đạt được sự tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả. Sự phát triển kinh tế - xã hội sau hơn một thập kỷ thi hành Hiến pháp 2013 đã đặt ra những vấn đề mới cần được thể chế hóa ở tầm Hiến định để đảm bảo sự phát triển bền vững.

Cơ sở pháp lý và định hướng chính trị cho việc sửa đổi Hiến pháp được thể hiện rõ ràng trong các văn kiện của Đảng. Cụ thể, Kết luận 127-KL/TW năm 2025 của Bộ Chính trị đã chỉ đạo việc nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bao gồm cả việc nghiên cứu sáp nhập tỉnh thành và sửa đổi, bổ sung các quy định của Đảng, Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước liên quan đến tổ chức bộ máy. Tiếp đó, Nghị quyết 60-NQ/TW năm 2025 của Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thống nhất chủ trương sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước liên quan đến các quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, và các quy định về chính quyền địa phương nhằm phục vụ việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Những văn kiện này đã tạo hành lang chính trị quan trọng cho quá trình sửa đổi Hiến pháp.

Ngày 05/05/2025 Quốc hội đã thông qua 02 nghị quyết, gồm: Nghị quyết số 194/2025/QH15 và Nghị quyết số 195/2025/QH15 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, theo đó Quyết định xem xét sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 để thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, trong đó tập trung vào các quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và việc phân định đơn vị hành chính, tổ chức chính quyền địa phương; Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 để chủ trì, phối hợp với các cơ quan thực hiện nhiệm vụ xây dựng dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 9.

Quá trình xây dựng dự thảo Nghị quyết đã thực hiện lấy ý kiến rộng rãi tới các tổ chức, cá nhân. Ngày 16/6/2025 Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 203/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Nghị quyết).

 Nghị quyết 203/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thông qua tạo cơ sở hiến định cho việc sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp theo chủ trương Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

II. BỐ CỤC CỦA NGHỊ QUYẾT

Nghị quyết gồm 02 điều, trong đó:

- Điều 1 quy định về sửa đổi, bổ sung 05/120 điều của Hiến pháp, cụ thể: (i) Sửa đổi, bổ sung Điều 9 để khẳng định vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân, tạo cơ sở hiến định cho việc sắp xếp, tinh gọn các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; (ii) Sửa đổi, bổ sung Điều 10 để tiếp tục ghi nhận và thể hiện rõ nét vị trí, vai trò của Công đoàn Việt Nam; (iii) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 84 quy định các cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội; (iv) Sửa đổi, bổ sung Điều 110 để khẳng định các đơn vị hành chính của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức thành 02 cấp (gồm: tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do luật định); (v) Sửa đổi, bổ sung Điều 111 để bổ sung quy định về chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đó.

- Điều 2 quy định Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày được Quốc hội thông qua (ngày 16/6/2025); đơn vị hành chính cấp huyện sẽ kết thúc hoạt động từ ngày 01/7/2025; đồng thời, quy định về điều khoản chuyển tiếp để tạo cơ sở pháp lý cho việc kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan trong đợt sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã năm 2025 và kiện toàn tổ chức bộ máy của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nhiệm kỳ 2021 - 2026 khi không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện, bảo đảm các cơ quan sau khi thực hiện sắp xếp hoạt động thông suốt, đồng bộ, không để gián đoạn công việc, không để ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị, tổ chức, xã hội và người dân.

III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT 

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 Hiến pháp năm 2013 làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội (khoản 1 Điều 1)

Sửa đổi Điều 9 Hiến pháp 2013, bổ sung cụm từ "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo". Việc bổ sung này không chỉ làm rõ vị trí mà còn thể chế hóa sâu sắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng trong Hiến pháp, đồng thời khẳng định tính thống nhất và liên kết chặt chẽ của các thành tố trong hệ thống chính trị. Mặc dù vai trò lãnh đạo của Đảng đã được quy định tại Điều 4 của Hiến pháp, việc tái khẳng định nó trong điều khoản định nghĩa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam củng cố cấu trúc phân cấp và tích hợp của hệ thống chính trị Việt Nam. Nó làm rõ rằng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ lãnh đạo bao trùm của Đảng. Cụ thể như sau:

“Điều 9

1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân đến các cơ quan nhà nước; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; được tổ chức và hoạt động thống nhất trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; cùng với các tổ chức thành viên khác của Mặt trận hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì.

3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động”.

2. Sửa đổi, bổ sung Điều 10 về Công đoàn Việt Nam (khoản 2 Điều 1)

Tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng, không thể thay thế của Công đoàn Việt Nam trong quan hệ lao động, đại diện cho giai cấp công nhân. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi Bộ luật Lao động năm 2019 cho phép thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp ngoài hệ thống Công đoàn Việt Nam, và trên thực tế đã xuất hiện tình trạng có những tổ chức bất hợp pháp mượn danh đại diện cho người lao động Việt Nam. Nghị quyết sửa đổi Điều 10 về công đoàn như sau:

“Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động; đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên công đoàn và người lao động; là đại diện duy nhất của người lao động ở cấp quốc gia trong quan hệ lao động và quan hệ quốc tế về công đoàn; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

3. Sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến chính quyền địa phương tại Điều 110 (khoản 4 Điều 1)

Một trong những điểm mới có tính đột phá nhất Nghị quyết việc tổ chức lại chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp, chính thức chấm dứt hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện từ ngày 01/7/2025. Hiến pháp 2013 (Điều 110) quy định các đơn vị hành chính của Việt Nam được phân định thành ba cấp: cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), và cấp huyện (huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, quận, đơn vị hành chính tương đương), và cấp xã (xã, thị trấn, phường). Với sửa đổi năm 2025, Điều 110 của Hiến pháp 2013 được bổ sung và điều chỉnh để quy định rõ: "Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức thành hai cấp, gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do luật định". Mặc dù Điều 110 sửa đổi vẫn giữ quy định về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập và việc lấy ý kiến Nhân dân địa phương khi thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính. Tuy nhiên, trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính do Quốc hội quy định (theo Hiến pháp năm 2013 thủ tục này do luật định). Cụ thể như sau:

“Điều 110

1. Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức thành hai cấp, gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do luật định.

2. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập.

3. Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương và theo trình tự, thủ tục do Quốc hội quy định”.

4. Sửa đổi, bổ sung Điều 111, bổ sung quy định về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (khoản 5 Điều 1)

Nghị quyết cơ bản vẫn giữ nguyên tắc tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương trong đó quy định Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo do Quốc hội quy định.

Đối với chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đó.

5. Kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện trong cả nước từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 đồng thời quy định về kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện

Để đảm bảo sự ổn định và liên tục trong giai đoạn chuyển tiếp, khoản 3 Điều 2 Nghị quyết quy định: “Khi kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện trong năm 2025 thì không tiến hành bầu các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban nhân dân tại đơn vị hành chính hình thành sau sắp xếp; không bầu Trưởng đoàn, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hình thành sau sắp xếp. Căn cứ thông báo của cấp ủy có thẩm quyền quản lý cán bộ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ định Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân, Trưởng đoàn, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hình thành sau sắp xếp; Thủ tướng Chính phủ chỉ định Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hình thành sau sắp xếp; Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ định Ủy viên Ủy ban nhân dân cùng cấp và chỉ định Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính cấp dưới hình thành sau sắp xếp; Thường trực Hội đồng nhân dân ở đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hình thành sau sắp xếp chỉ định Ủy viên Ủy ban nhân dân cùng cấp. Trường hợp đặc biệt, cho phép chỉ định nhân sự không phải là đại biểu Hội đồng nhân dân giữ các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân ở đơn vị hành chính hình thành sau sắp xếp hoặc làm đại biểu Hội đồng nhân dân để hình thành Hội đồng nhân dân lâm thời ở các phường đang thực hiện mô hình chính quyền đô thị không tổ chức Hội đồng nhân dân”.

Lượt xem: 8