Đăng ký nhận tin
Chủ Nhật, ngày 05/4/2026

Về cơ chế quản lý tài chính chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 5 năm 2001 - 2005

Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trong giai đoạn 2001-2005 chúng ta đã triển khai thực hiện 20 Chương trình KH &CN trọng điểm cấp Nhà nước với tổng số 521 đề tài, dự án KH &CN, bao gồm 10 Chương trình khoa học công nghệ (KC) với 420 đề tài, dự án KHCN và 10 Chương trình khoa học xã hội (KX) với 101 đề tài KHXH...

 

                                                            TS. Nguyễn Trường Giang

1. Về cơ chế quản lý tài chính chương trình KH &CN

Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trong giai đoạn 2001-2005 chúng ta đã triển khai thực hiện 20 Chương trình KH &CN trọng điểm cấp Nhà nước với tổng số 521 đề tài, dự án KH &CN, bao gồm 10 Chương trình khoa học công nghệ (KC) với 420 đề tài, dự án KHCN và 10 Chương trình  khoa học xã hội (KX) với 101 đề tài KHXH. Về kinh phí ngân sách nhà nước đầu tư cho Chương trình KH &CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn năm 2001- 2005 là 964.372 triệu đồng, trong đó 10 Chương trình KC là 851.092 tr.đồng; 10 Chương trình  KX là 113.280 tr.đồng.

...Thực hiện Quyết định số 82/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã có Quyết định số 41/2001/QĐ-BKHCNMT ngày 18/7/2001 ban hành Quy định tạm thời về quản lý Chương trình KH &CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 5 năm 2001-2005, trong đó quy định:

- Mỗi Chương trình có Ban Chủ nhiệm Chương trình và Văn phòng Chương trình giúp việc Ban chỉ đạo. Ban Chủ nhiệm Chương trình chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ KH &CN, giúp Bộ trưởng điều hành các hoạt động của Chương trình. Văn phòng Chương trình gồm Chánh Văn phòng và các cán bộ giúp việc, Văn phòng Chương trình đặt tại cơ quan làm việc của Chánh Văn phòng, Chánh văn Phòng sử dụng bộ máy kế toán của tổ chức nơi đặt Văn phòng để quản lý kinh phí chương trình.

- Bộ KH &CN xác định nhiệm vụ, tuyển chọn đơn vị chủ trì, quyết định nội dung, dự toán kinh phí của các đề tài. Kiểm tra, đánh giá định kỳ, tổ chức nghiệm thu kết quả thực hiện. Điều chỉnh nội dung và dự toán kinh phí của các đề tài, dự án. Bổ nhiệm Chủ nhiệm và các thành viên trong Ban chủ nhiệm, Chánh Văn phòng Chương trình trên cơ sở thoả thuận với cơ quan chủ quản.

- Kinh phí của chương trình được cấp trực tiếp từ Bộ Tài chính đến Văn phòng Chương trình thông qua tài khoản của tổ chức nơi đặt Văn phòng Chương trình. Văn phòng cấp kinh phí cho các cơ quan chủ trì đề tài, dự án theo hợp đồng đã ký kết và theo chỉ đạo của Ban chủ nhiệm Chương trình. Tổ chức chủ trì thực hiện đề tài, dự án quyết toán kinh phí với Văn phòng Chương trình.

Về quản lý tài chính, ngày 24/10/2001, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 84/2001/TT-BTC “Hướng dẫn về việc cấp phát và quyết toán kinh phí năm 2001 đối với các Chương trình KH &CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 5 năm 2001-2005”.

Ngày 18/4/2002, Liên Bộ Tài chính - Bộ KH,CN&MT (nay là Bộ KH &CN) ban hành Thông tư liên tịch số 35/2002/TTLT/BTC-BKHCNMT “Hướng dẫn công tác quản lý tài chính đối với các chương trình KH &CN trọng điểm cấp Nhà nước”.

Ngày 29/10/2004, Liên Bộ Tài chính - Bộ KH &CN ban hành Thông tư liên tịch số 101/2004/TTLT/BTC-BKHCN “Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 35/2002/TTLT/BTC-BKHCNMT hướng dẫn công tác quản lý tài chính đối với các chương trình KH &CN trọng điểm cấp Nhà nước”.

Theo đó:

(1). Về lập dự toán: Hàng năm căn cứ vào nhiệm vụ của các Chương trình, Bộ KH &CN lập dự toán của từng Chương trình, gửi Bộ Tài chính để tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ.

(2). Về giao dự toán chi ngân sách hàng năm: Bộ Tài chính giao trực tiếp dự toán chi ngân sách hàng năm cho các Chương trình.

(3). Về điều hành ngân sách:

- Giai đoạn 2001-2003: Bộ Tài chính cấp trực tiếp kinh phí cho các Chương trình để cấp cho các đơn vị thực hiện đề tài, dự án. (Riêng đối với các Chương trình khoa học xã hội - mã số KX, do Chương trình ký hợp đồng trực tiếp với các cá nhân thực hiện đề tài thuộc Chương trình, không có đơn vị chủ trì nên các cá nhân nhận trực tiếp kinh phí từ Chương trình và thanh quyết toán trực tiếp với Chương trình).

- Giai đoạn 2004-2005: Các Chương trình phân bổ, Bộ Tài chính thẩm định phân bổ, Chương trình giao dự toán cho các đơn vị thực hiện đề tài; Chương trình rút dự toán chuyển vào tài khoản tiền gửi của các đơn vị chủ trì thực hiện đề tài, dự án (riêng đối với các Chương trình khoa học xã hội - mã số KX, các Chương trình thanh toán trực tiếp cho các cá nhân thực hiện đề tài). KBNN, nơi đơn vị giao dịch, thực hiện việc kiểm soát chi đối với việc thực hiện dự toán chi của các đề tài. Đơn vị thực hiện đề tài, dự án lấy xác nhận của KBNN nơi đơn vị mở tài khoản tiền gửi Ban chủ nhiệm Chương trình để kiểm tra xác nhận và làm thủ tục chuyển từ tạm ứng sang thanh toán tại KBNN, nơi Ban chủ nhiệm Chương trình mở tài khoản giao dịch.

(4).Về quyết toán:

- Các đơn vị chủ trì thực hiện đề tài quyết toán kinh phí với các Chương trình (đối với các Chương trình khoa học xã hội - mã số KX, không có đơn vị chủ trì, các Chương trình trực tiếp quyết toán kinh phí của toàn bộ Chương trình) để tổng hợp quyết toán trực tiếp với Bộ Tài chính.

- Bộ Tài chính căn cứ vào hồ sơ quyết toán của các Chương trình; bản xác nhận khối lượng công việc đã thực hiện của Bộ KH &CN cho các Chương trình để thẩm định quyết toán hàng năm.

(5). Riêng đối với các Chương trình thuộc khối Đảng, Quốc phòng, An ninh thực hiện quản lý tài chính theo các qui định của khối Đảng, Quốc phòng, An ninh.

2. Một số tồn tại, vướng mắc về công tác quản lý tài chính

(1). Dự toán chi ngân sách hàng năm Chính phủ giao cho các Ban chủ nhiệm Chương trình, nhưng trong thực tế điều hành Ban chủ nhiệm các Chương trình không được quyền quyết định dự toán và phân bổ kinh phí cho các đề tài, dự án mà phụ thuộc vào Bộ KH &CN. Vì Bộ KH &CN phê duyệt đề cương và dự toán kinh phí của các đề tài, dự án của các Chương trình, hàng năm phân bổ kinh phí cụ thể cho các đề tài, dự án của các Chương trình, sau đó Ban chủ nhiệm các Chương trình mới được ký hợp đồng với các đơn vị thực hiện.

Như vậy, Ban chủ nhiệm các chương trình không được quyền chủ động trong việc phân bổ dự toán chi ngân sách hàng năm của các Chương trình, mà chủ yếu phụ thuộc vào Bộ KH &CN, do vậy việc phân bổ dự toán chi ngân sách hàng năm thường bị chậm.

(2). Các Chương trình chưa quan tâm đúng mức đến công tác quản lý tài chính và thanh quyết toán của Chương trình. Ở những năm đầu mới thực hiện (năm 2001, 2002), một số Chương trình chưa thực hiện việc quyết toán kịp thời kinh phí hàng năm.

(3). Một số Chương trình chưa thực hiện việc kiểm tra quyết toán kinh phí hàng năm đối với các đơn vị thực hiện đề tài, dự án trước khi tổng hợp quyết toán gửi Bộ Tài  chính.

(4). Hồ sơ quyết toán kinh phí hàng năm của nhiều Chương trình gửi Bộ Tài chính chưa đầy đủ, đặc biệt là thiếu biên bản kiểm tra quyết toán kinh phí hàng năm; thiếu bản xác nhận khối lượng công việc đã thực hiện của Bộ KH &CN đối với các Chương trình.

(5). Giao dự toán chi ngân sách cho Ban chủ nhiệm chương trình vào tài khoản của Văn phòng Chương trình - đơn vị dự toán cấp III để cấp phát cho các đơn vị chủ trì đề tài, dự án của chương trình. Các đơn vị quyết toán với Ban chủ nhiệm chương trình (thông qua Văn phòng Chương trình) để tổng hợp quyết toán với Bộ Tài chính.

Về chứng từ để quyết toán, Văn phòng Chương trình phải là đơn vị giữ chứng từ gốc theo Luật NSNN. Tuy nhiên, đơn vị thực hiện dự án cũng cần giữ chứng từ gốc để thực hiện nghĩa vụ với cơ quan thuế và báo cáo đơn vị cấp trên trực tiếp. Việc này khiến các đơn vị thực hiện dự án gặp khó khăn khi thanh quyết toán số kinh phí của dự án.

3. Nguyên nhân của những tồn tại trên

(1). Ban chủ nhiệm Chương trình và Văn phòng Chương trình không có tư cách pháp nhân, không có tài khoản và con dấu riêng, mà sử dụng con dấu và tài khoản của cơ quan do Chánh Văn phòng Chương trình đang công tác, như vậy về pháp lý của Ban chủ nhiệm Chương trình là chưa đầy đủ, theo đó ảnh hưởng đến hiệu lực quản lý của Chương trình đối với các đơn vị, cá nhân thực hiện đề tài, dự án.

(2). Ban chủ nhiệm các Chương trình với các thành viên đa số là kiêm nhiệm và ở nhiều cơ quan đơn vị khác nhau, thực tế ít có thời gian, điều kiện tập trung cho Chương trình, do vậy việc quy định về trách nhiệm rất khó được thực hiện.

(3). Cán bộ quản lý và kế toán Chương trình đều kiêm nhiệm, đa số các Chương trình chỉ có 01 kế toán ở đơn vị Văn phòng Chương trình đặt trụ sở  làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, chế độ trách nhiệm không rõ.

(4). Bản xác nhận khối lượng công việc đã thực hiện hàng năm của Bộ KH &CN đối với các Chương trình thường rất chậm, xác nhận chung chung không có tác dụng trong việc đối chiếu giữa khối lượng công việc đã thực hiện với số kinh phí đã quyết toán của các Chương trình, do vậy không giúp cho việc thẩm tra quyết toán hàng năm của Bộ Tài chính.

(5). Cơ quan tài chính chưa thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra về công tác quản lý tài chính đối với các Chương trình KH &CN trọng điểm cấp Nhà nước.

(6). Tính đặc thù của việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học: Bộ KH &CN ngoài việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về khoa học còn thực hiện luôn việc phân bổ kinh phí của các đề tài dự án; các đề tài, dự án đó không chỉ gói gọn trong Bộ KH &CN mà có thể ký hợp đồng với các tổ chức ngoài Bộ bao gồm cả các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp khác do đó dẫn đến khó khăn trong việc kiểm soát thanh toán, quyết toán của cơ quan tµi chÝnh, KBNN...
 
 

Lượt xem: 6