Đăng ký nhận tin
Chủ Nhật, ngày 05/4/2026

Thực trạng tài chính cho KHoa học và công nghệ hiện nay

&nbsp;<font face=Arial size=2>… Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, Nhà nước không ngừng tăng đầu tư kinh phí cho hoạt động KH&amp;CN. Nếu năm 1997, tổng đầu tư NSNN cho KH&amp;CN là 733 tỷ đồng, bằng 0,9 chi tiêu ngân sách, thì đến năm 2005 là 4.270 tỷ đồng, bằng 1,86 chi tiêu NSNN. Tính trung bình trong giai đoạn 2001 - 2005, hàng năm đầu tư cho KH&amp;CN đạt bình quân 1,95 chi tiêu của NSNN</font>

Thực trạng tài chính

cho KHoa học và công nghệ hiện nay

GS.TS. Mai Ngọc Cường*

… Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, Nhà nước không ngừng tăng đầu tư kinh phí cho hoạt động KH&CN. Nếu năm 1997, tổng đầu tư NSNN cho KH&CN là 733 tỷ đồng, bằng 0,9 chi tiêu ngân sách, thì đến năm 2005 là 4.270 tỷ đồng, bằng 1,86 chi tiêu NSNN. Tính trung bình trong giai đoạn 2001 - 2005, hàng năm đầu tư cho KH&CN đạt bình quân 1,95 chi tiêu của NSNN (số liệu Bảng 1).

Bảng 1: Đầu tư cho KH&CN từ ngân sách nhà nước 1997-2005

Năm

Đầu tư cho KH&CN (tỷ đ)

Tỷ lệ đầu tư

so với chi NSNN

Tổng số

NSKH

Đầu tư phát triển

1997

733

626

107

0,90

1998

912

794

118

1,20

1999

934

780

154

1,30

2000

1885

1350

535

2,00

2001

2.322

1.600

722

1,87

2002

2.814

1.810

1.004

2,10

2003

3.180

2.012

1.168

2,01

2004

3.727

2.296

1.431

1,99

2005

4.270

2.520

1.750

1,86

(Nguồn: Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính và Bộ KH&CN)

Nhờ có nguồn đầu tư cho KH&CN từ NSNN ngày càng tăng lên, hoạt động KH&CN của cả nước ngày càng phát triển. Số nhiệm vụ nghiên cứu ngày càng tăng: chỉ tính trong giai đoạn 2001 - 2005, có 2334 nhiệm vụ KH&CN cấp Nhà nước được phê duyệt; ngoài ra, hàng năm còn có hàng chục nhiệm vụ KH&CN trọng điểm được thực hiện tại các tỉnh, thành phố. Chỉ tính riêng Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong giai đoạn 2001 - 2005 đã có 3042 đề tài khoa học cấp Bộ, trong đó có 207 đề tài trọng điểm.

Hoạt động KH&CN của cả nước đã thúc đẩy sự phát triển lĩnh vực KH&CN, cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ KH&CN, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuy nhiên, hoạt động KH&CN đang đứng trước những khó khăn và hạn chế xét từ góc độ cơ chế tài chính hiện hành. Trong phạm vi của bản tham luận, tác giả xin đề cập tới một số vấn đề sau:

Thứ nhất, tỷ lệ đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động KH&CN còn thấp và việc phân bổ nguồn kinh phí này cho các nhiệm vụ của ngành KH&CN còn chưa hợp lý:

- Trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc tăng đầu tư cho KH&CN nhưng tỷ lệ đầu tư còn rất khiêm tốn, đạt bình quân gần 2 chi NSNN. So với nhiều nước khác, như Liên bang Nga (chi cho KH&CN đạt 4 chi ngân sách nhà nước).

- Việc phân bổ kinh phí cho đầu tư phát triển và sự nghiệp khoa học còn chưa hợp lý;

+ Tốc độ tăng kinh phí đầu tư phát triển nhanh hơn so với tăng cho kinh phí sự nghiệp khoa học. Từ năm 1997 đến 2005, tốc độ tăng kinh phí cho đầu tư phát triển là 16,35 lần, còn cho sự nghiệp khoa học là 5,82 lần;

+ Ngoài ra, vốn đầu tư phát triển KH&CN do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý, chủ trì cân đối, phân bổ cho các Bộ, ngành và địa phương; Bộ KH&CN chỉ phối hợp, song việc phối hợp còn chưa thật sự chặt chẽ và ăn khớp. Do đó, nguồn vốn này được sử dụng xa với mục tiêu đầu tư cho xây dựng cơ bản khoa học công nghệ, như các Chương trình kỹ thuật - kinh tế, Chương trình Biển Đông hải đảo, Điều tra cơ bản Vịnh Bắc Bộ... cũng được tính vào vốn XDCB cho KH&CN.

Thứ hai, việc quản lý, phân bổ sử dụng kinh phí sự nghiệp KH&CN còn dàn trải làm cho hiệu quả sử dụng vốn chưa cao.

- Nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học thấp, nhưng phân bổ rất dàn trải. Hàng năm, kinh phí sự nghiệp KH&CN phải phân chia cho các nhiệm vụ Nhà nước, hỗ trợ cấp Bộ cho hơn 50 đầu mối cấp Trung ương (kể từ các Bộ, ban, ngành, các uỷ ban, các cơ quan, đoàn thể, các hiệp hội,...) và 64 tỉnh, thành phố trực thuộc (Xem bảng 2).

Bảng 2. Phân bổ kinh phí sự nghiệp khoa học 2001 - 2005

Năm

Tổng số

Nhiệm vụ Nhà nước

Hỗ trợ cấp Bộ

S.nghiệp Đ.phương

Số lượng

(tỷ)

Số lượng

(tỷ)

Số lượng

(tỷ)

2001

1.600

482,0

30,13

733,0

45,81

385,0

24,06

2002

1.810

618,1

34,15

761,9

42,09

430,0

23,76

2003

2.012

597,2

29,68

938,8

46,66

476,0

23,66

2004

2.296

594,5

25,90

1.137,5

49,54

564,0

24,56

2005

2.520

601,0

23,85

1.299,0

51,55

620,0

24,60

(Nguồn: Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính và Bộ KH&CN)

Bảng trên còn cho thấy, phần kinh phí phân bổ cho nhiệm vụ cấp Nhà nước giảm xuống, cho các Bộ ngành tăng lên.

- Nghiên cứu khoa học để phát triển các ngành, các địa phương là cần thiết. Song điều đáng bàn là cơ chế quản lý, phân bổ sử dụng nguồn kinh phí này đang làm cho hiệu quả kinh phí sự nghiệp khoa học chưa cao. Bởi lẽ:

+ Kinh phí sự nghiệp được phân bổ cho các ngành, các địa phương; đến lượt nó, các ngành, các địa phương lại phân chia cho các đơn vị trực thuộc. Điều đó làm cho nguồn kinh phí đã ít ỏi lại bị chia nhỏ, không "ra tấm ra món", và nhiều khi trở thành khoản "chính sách" cho cán bộ khoa học;

+ Nhiều vấn đề nghiên cứu bị trùng lắp dẫn đến lãng phí nguồn vốn;

+ Muốn nghiên cứu phát minh, không chỉ cần kinh phí mà còn cần đội ngũ cán bộ nghiên cứu. ở nhiều ngành và hầu hết các địa phương, đội ngũ cán bộ khoa học rất mỏng, không đủ điều kiện để thực hiện các chương trình, đề tài. Do đó, khi nhận được kinh phí phải đi tìm lực lượng cán bộ nghiên cứu để thuê khoán, dẫn đến những tình trạng thuê đi, khoán lại, nhiều khâu trung gian hưởng kinh phí sự nghiệp khoa học còn kinh phí để chi trả trực tiếp cho lao động nghiên cứu, cho phát minh sáng kiến là thấp.

Thứ ba, thanh quyết toán kinh phí sự nghiệp KH&CN còn nhiều bất cập.

Điều này thể hiện như sau:

- Việc tính toán trả công lao động khoa học hiện còn rất khó khăn. Bởi lẽ, lao động trong nghiên cứu KH&CN là một loại lao động chất xám, mà lao động chất xám khó có thể định lượng để có được định mức chính xác. Trong khi đó, các ngành khoa học lại vô cùng đa dạng, chi tiêu trong từng lĩnh vực khoa học cũng khác nhau: khoa học xã hội khác với khoa học công nghệ; khoa học kỹ thuật lại khác với khoa học nông nghiệp... Do vậy, việc tính công lao động chất xám hiện nay chỉ là một sự quy ước tương đối.

- Một số nội dung chi tiêu của nhiệm vụ khoa học đã có giá của thị trường như mua máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, dụng cụ, phụ tùng, văn phòng phẩm, chế độ công tác phí, lưu trú, thuê phương tiện đi công tác theo giá thị trường và theo chế độ của Nhà nước. Tuy nhiên, dự toán khoản này lại gặp khó khăn ở chỗ xác định quy mô và phạm vi của đề tài.

- Đối với sản phẩm nghiên cứu của khoa học xã hội hiện nay đã được sửa đổi, thực hiện thuê khoán theo chuyên đề (Thông tư liên tịch số 45/2001/TTLT/BTC-BKHCNMT ngày 18 tháng 6 năm 2001). Tuy nhiên, mức khoán như trong Thông tư hiện nay vẫn chưa thực sự "cởi trói" cho các nhà khoa học. Thực tế cho thấy, có những đề tài cấp Nhà nước trong dự toán có tới 70-80 chuyên đề khoa học nhưng chất lượng các chuyên đề này như thế nào thì không thể kiểm soát được.

- Tất cả các mức chi như trên đều phải có chứng từ đầy đủ. Nhiều nhiệm vụ (đề tài) khoa học cấp Nhà nước có số lượng trang hoá đơn chứng từ thanh toán nhiều hơn số trang viết của báo cáo tổng hợp đề tài. Điều đó làm cho các cán bộ khoa học thấy quá phiền phức, thủ tục rườm rà, mất nhiều thời gian cho khâu lập chứng từ thanh toán, nhiều khi mang tính đối phó. Cơ chế này hiện là rào cản tính chủ động của các nhà nghiên cứu trong việc thực hiện nhiệm vụ, vừa có kẽ hở để dẫn đến chi bất hợp lý;

Ngoài ra, do việc cấp kinh phí thường chậm trong khi quyết toán phải theo niên độ cấp phát, buộc các chủ nhiệm đề tài phải đối phó để quyết toán kinh phí, gây ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu…/.



* Trưởng Khoa Tại chức Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

 

Lượt xem: 6