Đăng ký nhận tin
Chủ Nhật, ngày 05/4/2026

Quản lý, cấp phát, thanh toán kinh phí sự nghiệp khoa học giai đoạn 2001-2005, những bất cập và kiến nghị

&nbsp;<font face=Arial size=2>Hoạt động khoa học và công nghệ (KH&amp;CN) giai đoạn 5 năm 2001 - 2005 diễn ra trong bối cảnh Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định KH &amp;CN là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là nền tảng và nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. </font>

  
  Trần Xuân Trí

Hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) giai đoạn 5 năm 2001 - 2005 diễn ra trong bối cảnh Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định KH &CN là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là nền tảng và nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trư­ớc xu thế hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới, các nước đều phải điều chỉnh lại chiến l­ược phát triển của mình và KH &CN đ­ược coi là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của việc thực hiện chiến lư­ợc này. Trong bối cảnh đó, Luật KH và CN đã đư­ợc ban hành năm 2000 và có hiệu lực từ năm 2001 là cơ sở quan trọng để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động KH &CN đ­ược xây dựng và hoàn thiện.

Từ đó đến nay đã có nhiều văn bản của Đảng và Nhà n­ước cụ thể hoá định hướng về công tác nghiên cứu và xây dựng cơ chế chính sách cho lĩnh vực KH &CN như: Quyết định số 188/2002/QĐ-TTg ngày 31/12/2002 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Ch­ương trình hành động thực hiện Kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ­ương Đảng khoá IX; Quyết định số 272/2003/QĐ-TTg ngày 31/12/2003 của Thủ t­ướng Chính phủ phê duyệt Chiến l­ược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010; Quyết định số 51/2004/QĐ-TTg ngày 31/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Ch­ương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ­ương Đảng khoá IX; Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/9/2004 phê duyệt Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH &CN.

Thực hiện Quyết định số 82/2001/QĐ-TTg ngày 24/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phư­ơng hư­ớng, mục tiêu, nhiệm vụ KH &CN giai đoạn 2001-2005, Bộ KH &CN đã phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan, đặc biệt là Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư­ trong việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KH &CN phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế. Cơ chế quản lý tài chính cho các nhiệm vụ khoa học công nghệ cũng được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tính đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học theo hướng tăng cường phân cấp và giao quyền quyết định cho các Bộ, ngành, địa phương. Trong đó, có những cơ chế quản lý tài chính riêng áp dụng cho lĩnh vực KH &CN như:

- Chế độ chi tiêu đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ đã được sửa đổi bổ sung theo hướng thông thoáng, tăng tính tự chủ, gắn chế độ chi tiêu với sản phẩm nghiên cứu theo từng chuyên đề, chú trọng hơn đến lao động trong khoa học là lao động sáng tạo “chất xám”, mức chi tiêu đã được điều chỉnh nâng lên cho phù hợp hơn với tình hình thực tế.

- Cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình khoa học trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005 cũng đã được bổ sung, sửa đổi nhiều lần cho phù hợp với yêu cầu quản lý của lĩnh vực khoa học công nghệ. Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 81/2001/TT-BT hướng dẫn việc cấp phát, quyết toán kinh phí đối với các Chương trình khoa học trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005; Liên Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ có Thông tư Liên tịch số 35/2005/TTLT/BTC-BKHCNMT và Thông tư số 101/2001/TTLT/BTC-BKHCM sửa đổi bổ sung một số điểm của Thông tư 35/2005/TTLT/BTC-BKHCNMT,

Việc quản lý, cấp phát, thanh toán và quyết toán kinh phí đối với các chương trình KH &CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2003 được Bộ Tài chính trực tiếp giao dự toán chi ngân sách hàng năm cho từng chương trình để cấp cho các đơn vị thực hiện đề tài, dự án (riêng đối với các Chương trình khoa học xã hội - mã số KX, do Chương trình ký hợp đồng với cá nhân thực hiện đề tài thuộc chương trình, không có đơn vị chủ trì do vậy các cá nhân nhận kinh phí trực tiếp từ Văn phòng Chương trình); giai đoạn  2004-2005: Ban chủ nhiệm các Chương trình phân bổ dự toán cho các đơn vị thực hiện đề tài, gửi Bộ Tài chính thẩm định. Sau khi Chương trình được thẩm định, Ban chủ nhiệm giao dự toán cho các đơn vị thực hiện đề tài. Khi có nhu cầu sử dụng kinh phí, Ban chủ nhiệm Chương trình rút kinh phí từ tài khoản dự toán chuyển vào tài khoản tiền gửi của các đơn vị thực hiện đề tài, dự án mở tại KBNN nơi giao dịch. 

Với cơ chế quản lý tài chính như trên, đã khắc phục được một số vướng mắc trong quá trình quản lý và cấp phát đối với kinh phí sự nghiệp khoa học, tuy nhiên, cũng còn một số tồn tại sau:

- Việc phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho từng đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ đến các đơn vị được giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện thường rất chậm, có rất nhiều đề tài, dự án nghiên cứu khoa học đến tháng 6, tháng 7 hoặc thậm chí phải đến phải đến tháng 9, tháng 10 hàng năm mới được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt do đó làm ảnh hưởng đến việc triển khai nghiên cứu, chậm giải ngân kinh phí cho đề tài và thường dồn vào cuối năm. Như vậy đã tạo sức ép rất lớn cho các đơn vị, chủ nhiệm đề tài, dự án buộc phải tổ chức triển khai nghiên cứu và giải ngân quá gấp để có thể hoàn thành các nhiệm vụ được giao trong năm. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả của công tác nghiên cứu, việc quản lý sử dụng kinh phí theo đó cũng đạt được hiệu quả thấp do đơn vị phải cố chi cho hết kinh phí được giao; đồng thời đề tài, dự án cũng phải kéo dài sang các năm sau.

- Ban chủ nhiệm, uỷ viên và kế toán của các Chương trình phần lớn là kiêm nhiệm; Chủ nhiệm chương trình không phải là Thủ trưởng đơn vị; các chương trình, dự án không có tài khoản, con dấu riêng phải dùng con dấu và tài khoản của đơn vị nơi đặt văn phòng (Chương trình KX 01, Văn phòng đặt tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân nhờ con dấu và tài khoản của Trường Đại học KTQD; Chương trình KC 01 đặt tại Trường Đại học Bách khoa nhờ con dấu và tài khoản của Trường Đại học Bách khoa) dẫn đến tình trạng Chủ tài khoản và Chủ nhiệm đề tài, dự án là hai pháp nhân khác nhau gây khó khăn cho việc cấp phát thanh toán cho đề tài, dự án.

- Trong thực tế, một số cá nhân không có tư cách pháp nhân nhưng được giao chủ trì thực hiện để tài, dự án (các dự án, đề tài KX) nên không phải là đối tượng được phân bổ, giao dự toán NSNN dẫn đến không giao được dự toán cho cá nhân chủ trì thực hiện đề tài, dự án.

 - Văn phòng Chương trình trực thuộc Bộ KH &CN là đối tượng phân bổ dự toán ngân sách nhưng lại không trực tiếp sử dụng NSNN nên phải chuyển tiền vào tài khoản tiền gửi của các chủ đề tài, dự án mở tại KBNN nơi giao dịch đã dẫn đến tình trạng phải tạm ứng chi ngân sách tại KBNN nơi Văn phòng Chương trình mở tài khoản nhưng lại thanh toán chi trả ngân sách tại KBNN nơi chủ đề tài, dự án mở tài khoản. Sau đó để làm thủ tục thanh toán tại KBNN nơi Văn phòng Chương trình mở tài khoản, Văn phòng Chương trình phải tập hợp đủ chứng từ của các chủ đề tài, dự án trực thuộc Chương trình để KBNN chuyển từ tạm ứng sang thanh toán. Do vậy đã gây khó khăn cho công tác kiểm soát chi, hạch toán kế toán và luân chuyển chứng từ của KBNN và các đơn vị sử dụng NSNN.

 - Việc tổng hợp, báo cáo tình hình cấp phát, thanh toán cho các chương trình, dự án khoa học và công nghệ của KBNN và cơ quan tài chính cũng gặp nhiều vướng mắc, KBNN không thể lấy báo cáo theo mục lục NSNN, không thể tách số liệu chi tiêu theo từng chương trình, dự án cụ thể. Trường hợp tổng hợp theo mã đơn vị sử dụng NSNN thì lẫn kinh phí nghiên cứu khoa học thường xuyên và kinh phí nghiên cứu khoa học thuộc các chương trình trọng điểm cấp Nhà nước...

Từ những khó khăn, vướng mắc trên, KBNN đề xuất cơ chế quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi khoa học công nghệ trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, về phân bổ, giao dự toán:

- Để thuận tiện cho việc kiểm soát, cấp phát, thanh toán, báo cáo và quyết toán kinh phí nghiên cứu khoa học, khi phân bổ và giao dự toán ngân sách, kinh phí nghiên cứu khoa học công nghệ thuộc Bộ nào nên giao vào dự toán chi NSNN của Bộ đó. Đối với trường hợp Chủ đề tài dự án là doanh nghiệp hoặc tư nhân thì Bộ chủ quản hoặc Chủ nhiệm chương trình trực tiếp ký hợp đồng với chủ đề tài, dự án và thực hiện thanh toán cho chủ đề tài, dự án theo tiến độ thực hiện và kết quả của đề tài, dự án theo hợp đồng đã ký kết.

- Các Bộ, ngành phải đảm bảo việc giao dự toán chi NSNN cho các nhiệm vụ nghiên cứu được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo đúng thời gian quy định của Luật NSNN, gửi KBNN trước 01/01 của năm ngân sách để tạo điều kiện cho các đơn vị, chủ nhiệm đề tài chủ động trong việc tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ngay từ đầu năm; đồng thời KBNN có căn cứ để cấp phát NSNN đáp ứng kịp thời nhu cầu kinh phí cho việc nghiên cứu.

Thứ hai, về thanh toán, quyết toán kinh phí nghiên cứu KH &CN: Về cơ bản việc quản lý, thanh toán, quyết toán kinh phí NSNN cấp cho các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ thực hiện chung theo quy định hiện hành của Luật NSNN song cần có một số điểm mở hơn cho phù hợp với đặc thù của hoạt động KH &CN, cụ thể:

- Dự toán kinh phí đã được cấp có thẩm quyền giao hàng năm, hết năm ngân sách còn dư tại KBNN được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng (không bị huỷ bỏ như các nguồn kinh phí khác). Hết năm ngân sách, nếu dự toán được giao chưa sử dụng hết, đơn vị phải lập báo cáo gửi KBNN nơi giao dịch để làm thủ tục chuyển dự toán sang năm sau tiếp tục sử dụng.

- Đối với những khoản tạm ứng của các đề tài, dự án đến 31/12 hàng năm chưa đủ thủ tục thanh toán được chuyển sang năm sau thanh toán và quyết toán vào ngân sách năm sau. Đơn vị lập báo cáo gửi KBNN nơi giao dịch làm thủ tục chuyển tạm ứng sang năm sau để tiếp tục thanh toán tạm ứng và quyết toán vào ngân sách năm sau.

Thứ ba, về cơ chế tài chính: nhằm phát huy tính chủ động của các đơn vị chủ trì thực hiện đề tài, đồng thời gắn hoạt động nghiên cứu, kết quả nghiên cứu khoa học với thực tế của xã hội, đảm bảo việc sử dụng kinh phí NSNN cấp cho các hoạt động khoa học đạt hiệu quả cao cần phải thực hiện giao quyền tự chủ về tài chính để thực hiện đề tài, dự án gắn với trách nhiệm về kết quả nghiên cứu khoa học cho các đơn vị và cá nhân thực hiện đề tài nghiên cøu KH&CN<
 
 

Lượt xem: 6