Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
<font face=Arial size=2>Tổ chức quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) theo các Chương trình là một phương thức quản lý tiên tiến, nhiều nước trên thế giới đều thực hiện. Ở Việt Nam, đã trải qua 5 kế hoạch 5 năm thực hiện phương thức quản lý này. Giai đoạn 2001-2005, quy định về tổ chức quản lý các Chương trình KH &CN trọng điểm cấp Nhà nước đã có bước đổi mới rất tích cực để thực hiện Luật KH &CN... </font></font>
Nguyễn Trọng Thụ
1. Ưu điểm
1.1. Tổ chức quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) theo các Chương trình là một phương thức quản lý tiên tiến, nhiều nước trên thế giới đều thực hiện. Ở Việt Nam, đã trải qua 5 kế hoạch 5 năm thực hiện phương thức quản lý này. Giai đoạn 2001-2005, quy định về tổ chức quản lý các Chương trình KH &CN trọng điểm cấp Nhà nước đã có bước đổi mới rất tích cực để thực hiện Luật KH &CN.
1.2. Để thực hiện Luật KH &CN, lần đầu tiên Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng và ban hành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định tương đối đầy đủ và chi tiết về yêu cầu, nguyên tắc, quy trình và thủ tục xác định nhiệm vụ, tuyển chọn, đánh giá nghiệm thu các nhiệm vụ KH &CN để tổ chức xây dựng và triển khai thực hiện các Chương trình KH &CN trọng điểm cấp Nhà nước, góp phần thực hiện cơ chế dân chủ và bước đầu tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Vì vậy, việc thực hiện phương thức mới về xác định và tuyển chọn nhiệm vụ KH &CN thời gian qua đã và đang được dư luận xã hội nói chung và các nhà khoa học nói riêng hoan nghênh, đánh giá cao và hưởng ứng tích cực.
2. Tồn tại, nguyên nhân
2.1. Về tổ chức
Ban Chủ nhiệm Chương trình (có từ 3-5 người) gồm các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, do Bộ trưởng Bộ KH &CN quyết định thành lập (được Bộ, ngành chủ quản đồng ý), có trách nhiệm giúp Bộ KH &CN điều hành thực hiện Chương trình. Văn phòng Chương trình là tổ chức giúp việc cho Ban Chủ nhiệm Chương trình nhưng đặt ở các Viện, Trường thuộc các Bộ, ngành khác, cơ quan quản lý chưa xác định rõ vai trò, mối quan hệ của Bộ chủ quản với các tổ chức và cá nhân có liên quan nên Bộ, ngành chưa nhận rõ trách nhiệm của mình trong quá trình tổ chức thực hiện Chương trình.
Nguyên nhân: do Ban Chủ nhiệm Chương trình làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Nhiều Chủ nhiệm Chương trình là Lãnh đạo các tổ chức KH &CN nên rất bận về công việc ở cơ quan mình, ít chuyên tâm và chưa dành thời gian vật chất cần thiết cho việc điều hành, thực hiện đề tài, dự án. Bộ, ngành chủ quản thường cho rằng trách nhiệm tổ chức và quản lý nhiệm vụ KH &CN cấp Nhà nước là của Nhà nước (Bộ KH &CN) và Bộ, ngành chỉ có trách nhiệm tổ chức và quản lý nhiệm vụ KH &CN cấp Bộ.
2.2. Về xác định nhiệm vụ
Hiện vẫn còn có các ý kiến băn khoăn về tính cấp bách của các đề tài, dự án đã được lựa chọn. Tuy đã tổ chức lấy ý kiến rộng rãi từ các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân nhằm thu thập các ý tưởng tốt để hình thành các nhiệm vụ KH &CN, nhưng cơ quan quản lý vẫn còn phụ thuộc vào các đề xuất tự do, tản mạn nên chưa đưa ra được những nhiệm vụ KH &CN lớn để giải quyết những bức xúc của thực tiễn. Khâu thu thập và xử lý thông tin cũng còn có những bất hợp lý vì còn quá phụ thuộc vào các đề xuất từ các nguồn mà chưa tổ chức xử lý, sàng lọc thông tin trước khi chuyển cho Hội đồng tư vấn. Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia tham gia Hội đồng chưa đánh giá đúng ý tưởng của người đề xuất và chưa ý thức được tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu. Do đó, có một số nhiệm vụ tư vấn chưa chính xác và nhiệm vụ được giao chưa đúng người, đúng việc. Đây là điểm yếu của cả cơ quan quản lý và của người được mời tư vấn.
Nguyên nhân: Lần đầu tiên tổ chức xác định nhiệm vụ, tuyển chọn theo quy định của Luật KH &CN, cơ quan quản lý và các nhà khoa học chưa có kinh nghiệm thực tế nên trong thời gian 2001-2005, cơ quan quản lý thường chưa chủ động được về tiến độ để bảo đảm đáp ứng kịp thời yêu cầu của việc bố trí ngân sách. Thời gian từ khi xác định nhiệm vụ, tuyển chọn đến thẩm định phê duyệt, bố trí vào kế hoạch nếu chỉ được tiến hành trong một thời gian ngắn (khoảng 6 tháng) thì chưa đủ để chọn ra những nhiệm vụ KH &CN có chất lượng. Chất lượng nhiệm vụ KH &CN sẽ tốt hơn nếu việc xác định nhiệm vụ được chuẩn bị từ 2 năm trước năm kế hoạch.
2.3. Về điều hành
Việc xác định nhiệm vụ, xây dựng Chương trình là một quá trình, sự tham gia của Chủ nhiệm Chương trình và các thành viên Ban Chủ nhiệm Chương trình còn hạn chế. Do đó, một số Chủ nhiệm Chương trình cho rằng mình chỉ được Bộ KH &CN giao nhiệm vụ giúp Bộ KH &CN quản lý các nhiệm vụ KH &CN đã có sẵn, do Bộ KH &CN xây dựng chứ chưa phải các nhiệm vụ do chính mình chỉ đạo xây dựng nên khi yêu cầu đánh giá hiệu quả thì các Chủ nhiệm Chương trình đó thường chưa thừa nhận trách nhiệm đầy đủ của mình về kết quả và hiệu quả của việc thực hiện Chương trình. Bên cạnh đó, hoạt động thường xuyên của Chương trình còn mang tính hành chính, sự vụ, chưa thật sự mang tính chuyên môn, chuyên nghiệp. Chế độ phụ cấp trách nhiệm cho các thành viên Ban Chủ nhiệm Chương trình còn thấp, chưa đủ để động viên, khuyến khích đối với cán bộ KH &CN thành viên Ban Chủ nhiệm Chương trình, chủ nhiệm đề tài, dự án.
Nguyên nhân:
- Phân cấp nhiệm vụ và quyền hạn chưa rõ ràng để gắn trách nhiệm với kết quả thực hiện Chương trình;
- Quy định hiện hành chưa xác định cơ chế tham gia, phối hợp giữa Ban Chủ nhiệm Chương trình với các cơ quan quản lý có liên quan trong các nhiệm vụ xác định nhiệm vụ, tuyển chọn, thẩm định kinh phí, nghiệm thu và giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình;
- Chủ nhiệm hoặc Phó Chủ nhiệm Chương trình đều được quyền tham gia thực hiện Chương trình với tư cách là các chủ nhiệm Đề tài, Dự án thuộc Chương trình (lẽ ra không nên như vậy để việc điều hành Chương trình được khách quan hơn). Do đó, sự gắn kết giữa Chủ nhiệm Chương trình với việc điều hành Chương trình có thể chưa phải vì uy tín khoa học hoặc vì sự nghiệp phát triển khoa học.
2.4. Về việc lập dự toán, thẩm định, phê duyệt: Đã dựa vào văn bản quy định về nội dung và mức chi nhưng do nội dung và mức chi hiện hành còn nhiều bất cập và do trong khoa học chưa có định mức cụ thể nên nhiều trường hợp dự toán chưa chính xác, còn theo cảm tính, dẫn đến một số sai sót trong việc chi tiêu và phải xin điều chỉnh. Các nhà khoa học được mời thẩm định kinh phí hầu hết là những người làm quản lý, chưa thật sát chuyên môn, hoặc giỏi chuyên môn nhưng chưa biết tiếp cận khoa học từ góc độ kinh tế, có khi lại nể nang, do đó, kinh phí phê duyệt cho nhiệm vụ KH &CN có thể chưa thật chính xác. Việc thẩm định, trình duyệt thường mất nhiều thời gian nên khi được quyết định thì tiến độ đã bị chậm so với thời gian ghi trong hợp đồng, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai công việc và hiệu quả của việc thực hiện đề tài, dự án.
Nguyên nhân: Khoa học có đặc thù nhưng cơ chế quản lý tài chính cho KH &CN còn mang tính hành chính, việc thẩm định lại thiếu tính chuyên nghiệp, chưa có sự tham gia của các nhà kinh tế, tài chính nên trong một số trường hợp nhiệm vụ KH &CN chưa bảo đảm tính khả thi cao.
2.5. Về việc giải ngân, xác nhận khối lượng thực hiện và kinh phí đề nghị quyết toán: Việc giải ngân đòi hỏi nhiều tài liệu cần thiết để chứng minh cho việc giải ngân là có cơ sở, khi chuẩn bị giải ngân những lần tiếp theo đòi hỏi phải có văn bản xác nhận khối lượng công việc thực hiện. Công việc này do cơ quan quản lý thực hiện tuy được xem xét kỹ nhưng khó định lượng một cách rõ ràng nên ảnh hưởng đến việc quyết toán. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân nhìn chung được thực hiện tốt, trừ một số trường hợp không sử dụng hết kinh phí trong năm kế hoạch nên phải xin chuyển số dư sang năm sau. Một số Chủ nhiệm đề tài, dự án cho biết họ thường mất nhiều thời gian cho các công việc hoàn tất các thủ tục thanh quyết toán, điều đó cũng phần nào ảnh hưởng đến kết quả điều hành thực hiện đề tài.
Nguyên nhân: Chủ nhiệm đề tài, dự án chưa quen với công việc chi tiêu (còn mang tính hành chính), chưa phù hợp với đặc thù của khoa học, quy định nội dung chi và mức chi chưa thật sát thực tế, một số trường hợp chi sai nguyên tắc, chưa đúng mục đích sử dụng, đòi hỏi thời gian để chỉnh lý quyết toán.
2.6. Về kiểm tra (định kỳ 6 tháng /1lần): Chưa bảo đảm có chiều sâu để đạt được mục đích là thúc đẩy các đề tài, dự án thực hiện theo hợp đồng và để bảo đảm tạo ra các kết quả như đã đăng ký. Khi tiến hành kiểm tra thì nội dung học thuật chưa được chú ý đúng mức, chưa chú trọng đánh giá chất lượng của công việc đã được triển khai thực hiện.
Nguyên nhân: Do chưa có quy định thống nhất về nội dung kiểm tra, phương thức kiểm tra, đặc biệt là chưa có quy định về việc kiểm tra giữa kỳ để nếu đề tài, dự án không thực hiện theo đúng hợp đồng thì có chế tài xử lý kịp thời.
2.7. Về việc đánh giá, nghiệm thu: Văn bản quy phạm pháp luật hiện hành không quy định phải đánh giá nghiệm thu Chương trình mà chỉ quy định đánh giá nghiệm thu đề tài, dự án, sau đó chuẩn bị báo cáo tổng kết Chương trình. Do đó, đánh giá hiệu quả thông qua việc thực hiện mục tiêu Chương trình còn khó lượng hoá hoặc tính toán, trong nhiều trường hợp, chỉ nhận thấy hiệu quả gián tiếp, hiệu quả xã hội thể hiện bằng sức lan toả, tạo ra việc làm và ngành nghề mới, góp phần nâng cao mức sống của người lao động v.v...
Nguyên nhân: Không xác định được tiêu chí và phương pháp luận đánh giá Chương trình vì đây là vấn đề phức tạp. Hiệu quả của Chương trình được hiểu là hiệu quả của các đề tài, dự án đến khi kết thúc nghiệm thu, còn sau nghiệm thu thì chưa có cơ chế để theo dõi, đánh giá tổng thể hiệu quả của đề tài, dự án...
Lượt xem: 6